Sunday, September 6, 2026

HT1 Village Radios

 The "Village Radios"

The "Village Radio Program" was sponsored by the CIA during the Vietnam conflict, through a front organization known as the Office of Public Safety (this series of radios are also known as "OPS radios"). The purpose was to provide simple radios to the local civilians, so that they could inform officials of Viet Cong activities. The radios were built under contract with Radio Industries (which became a subsidiary of Hallicrafters, purchased in 1963), and included the HT-1, the HT-2, the TR-5 "Hamlet Radio", the TR-20 "Village Radio", and probably the TR-35A, among others. HT-1 units that have come into surplus channels are usually unmarked; earlier units have ID plates. Radios in the OPS series were used in other places in addition to Southeast Asia.

Below is an excerpt from “The Pentagon Papers”, describing some details of the program. The text indicates that the installation of radios was likely started in early 1962.



A probable reference to the program is seen in an October 1966 monthly status report of the CIA’s Research & Development Laboratory: Three new design projects were initiated during this reporting period. The first is for a Village Radio Alarm System to be used to alert established counter insurgency centers when a village in their area is being subjected to a forced meeting by insurgent forces.”

 

An HT-1E handheld transceiver.

 

The case of the HT-1 is made of a piece of extruded aluminum, with a cap-plate on each end. The bottom plate covers the battery compartment, which contains 8 "D" cells. The radio operates from 30-40 MC AM, crystal-controlled on a single channel, with a power output of 0.5 watts. Input power is 12 VDC, 0.18 amps (transmit). Several versions were made, including the HT-1A through HT-1E.

Early versions of the HT-1 had a "destruct button" near the bottom of the case, near the antenna base. This button did not detonate an explosive; rather, pressing the button and the PTT switch at the same time would blow a 125 mA fuse on the circuit board, thus rendering the radio inoperable by disabling both the audio driver and transmit oscillator stages. In the field, users had instructions that if they were ever out of radio contact that they should return to base. So, when a user became nervous in the jungle, he would sometimes "destruct" his radio, so that he had a good excuse to return to the village. For this reason, the destruct button was eliminated from later models. The internal fuse was replaced with a wire. The HT-1A manual says that the destruct circuit was not included on all radios. The schematic indicates the wiring changes if the button is present. By the time of the HT-1E, the destruct button is mentioned only in the disassembly procedure (probably erroneously) - the wiring for the button is gone from the schematic. [Note: The HT-1E schematic is missing a connection that is required for the transmit oscillator. This connection was probably removed by mistake when the destruct circuit was being removed from the schematic.]

Schematic diagram of the HT-1E

The HT-2 is a dual-band version of the HT-1. The TR-5 "Hamlet Radio" probably has a power output of about 5 W (no other info known at this time).

 

An HT-2, with dual-band capability. Image courtesy of the late Bill Howard.

 

The TR-20 "Village Radio" is a hybrid tube/transistor "base station" transceiver with a 20 watt output, and it operates from 30-40 MC. It has a Destruct button similar to the early HT-1 which, when pressed, blows a concealed fuse. The TR-20's front panel is labeled in both English and Vietnamese. One TR-20 unit (serial #0233F, owned by Mike Zane), has component markings indicating it was likely made in early 1964. The front panel layout is somewhat different from serial #A101. Both units are pictured below.

 

A TR-20 transceiver, serial A101. Image courtesy of Keith Snyder.

 

Another type of TR-20, serial 0233F. Differences include the location for the Destruct switch, and a lack of a Key jack. Image courtesy of Mike Zane.

 

A close-up of the TR-20 panel, showing the destruct switch and Vietnamese markings. Image courtesy of Keith Snyder.

TR-20 schematic, part 1 of 3

TR-20 schematic, part 2 of 3

TR-20 schematic, part 3 of 3

 

Hallicrafters TR-35A

The following pictures are of a TR-35A, circa 1966, which tunes 2-9 MC with a power input of 35 watts. The set operates from 110 VAC or 12 VDC. It is likely another member of the Village Radio program. Images courtesy of Gary W9NU: "This radio has a solid state receiver and operates on CW or AM. The transmitter uses a 7905 oscillator tube and a 4604 final tube. Both these tubes have instant-heating filaments to reduce the stand-by current drain. The weight is 28 pounds."

 

Hallicrafters TR-5

Shown here is a TR-5 set. Images courtesy of Pasquale Lombardi, KC2RNN.

 

Thursday, September 3, 2026

SOA50 - Las Vegas 2026

 

https://specialoperations.org






ALKIRE, Buddy
ALLEN, Lisa
ANDERSON, Jay
ARMSTRONG, Council
ASHTON, Swede
ATWOOD, Larry
BALDWIN, James
BARRETT, John
BELZ, Ray
BENESH, Don
BENJAMIN, Rich
BETTERTON, Dale
BINFORD, Rand
BITTLE, Richard
BONER, Horace
BORG, Charles
BOWRA, Ken
BOYD, Steven
BRISTOW, John
BURKHOLDER, Brad
BUTLER, Diane
BYRNE, Kevin
CANTWELL, Skip
CAVALLERO, Joe
CHAPMAN, Les
CHAPMAN, Richard
CHILSON, Duane
CHRISTENSEN, Bruce
CUMMINGS, Dennis
CUNNINGHAM, Thomas
CURRY, Terry
DANG, Win
DANIELS, Robert
DAVIS, Thomas
DAY, Jim
DE SANTOS, Joe
DESTINE, Dan
DOUGHERTY, Bill
DUFF, Ann
DeBERRY, Danny
ELLIOTT, Sheridan
ENGEBRETSEN, Donald
ESTENSON, Jerry
ESTES, Rick
FEIN, Len
FITCH, Paul
FONTAINE, Bev
FREEMAN, Richard
FROVARP, Ray
FRYER, John
FURBISH, Nancy
GATES, Bill
GEBBIE, John
GILPIN, Hurley
GINGO, Aric
GLEASON, Eddie
GODANO, Nicholas
GODSHALL, Douglas
GOOD, John
GORDON, David
GROLL, Tom
HAASE, Don
HALL, Dick
HALLIGAN, Tom
HAMNER, Gene
HANNA, Ronald
HANSON, Dale
HARDY, Jason
HENDRICKS, Keith
HERNANDEZ, Sammy
HETRICK, Jim
HICKEY, David
HOLLINGSWORTH, Ed
HOOPES, William
HOWARD, Rick
HUFFMAN, Jeanie
ISHIMOTO, Wade
JAEGER, Tom
JENSEN, Richard
JOHNSTON, Emery
JOHNSTON, Robert
JONES, Curt
JONES, John
JORDAN, Larry
KAPPLER, Bob
KIRK, Tim
KOONTZ, Robert
KRISTOFF, Mathew
KRUTINA, Dan
KULL, Jack
LEVESQUE, Frank
LITTLE, Larry
LOCKSHIER, Roger
LOWTHER, Phil
LUCE, Dana
MADSEN, Ed
MAKOOL, J.J.
MARKS, Dave
MARRIOTT. Henderson
MARTIN, John

Monday, April 6, 2026

48 GIỜ TRONG LÃNH THỔ ĐỐI PHƯƠNG

 

Đêm 3 tháng 4, bầu trời phía Nam Tehran tĩnh lặng đến mức bất thường, một kiểu im lặng khiến người ta có cảm giác mọi thứ đang chờ một biến cố. Ở độ cao trung bình, chiếc F-15E Strike Eagle lướt qua trong bóng tối, không phô trương nhưng đầy tự tin, như một cỗ máy được thiết kế để bước vào những nơi nguy hiểm nhất rồi rời đi. Trong buồng lái, viên Đại tá theo dõi các thông số với sự điềm tĩnh của người đã quá quen với ranh giới mong manh giữa sống và chết, còn viên phi công trẻ phía trước giữ hướng bay ổn định, cố giữ nhịp thở đều dù linh cảm nguy hiểm đang dần hiện rõ.
Dưới mặt đất, hệ thống S-400 âm thầm quét không gian, từng vòng radar chồng lên nhau như một tấm lưới vô hình. Một tín hiệu xuất hiện, yếu lúc đầu nhưng nhanh chóng được xác nhận, rồi bị khóa chặt. Tiếng cảnh báo trong buồng lái vang lên đột ngột. Viên phi công trẻ hỏi nhanh: “Bị khóa rồi, còn thoát được không?” Viên Đại tá chỉ cần một cái nhìn ngắn vào màn hình để hiểu mọi khả năng đã khép lại, rồi trả lời dứt khoát: “Không kịp, nhảy dù.” Hai người không do dự, ghế phóng bật ra, và chỉ một giây sau, quả tên lửa lao tới biến chiếc F-15E thành một khối lửa khổng lồ rơi xuống dãy núi phía dưới.
Hai cánh dù bung ra giữa màn đêm, trôi dạt về hai hướng khác nhau. Ở một hướng, viên phi công trẻ tiếp đất tương đối thuận lợi hơn, tín hiệu của anh rõ ràng và không bị địa hình che khuất. Anh vừa kịp thu dù thì đã nghe thấy tiếng động cơ từ xa, một âm thanh quen thuộc đến mức gần như phi lý giữa lãnh thổ đối phương. Chưa đầy hai giờ sau, một trực thăng cứu hộ áp sát, đội đặc nhiệm hạ xuống nhanh gọn, kiểm tra, kéo anh lên và rời đi trước khi vòng vây kịp siết lại. Khi cánh cửa đóng lại, anh nhìn xuống dãy núi phía xa, nơi đồng đội của mình đã rơi xuống, và hiểu rằng phần khó nhất của nhiệm vụ mới chỉ bắt đầu.
Ở hướng còn lại, viên Đại tá chạm đất trong một vùng núi đá muối hiểm trở, nơi địa hình cắt vụn mọi đường di chuyển. Ông nằm im vài giây để lắng nghe, rồi kích hoạt thiết bị phát tín hiệu ngắt quãng, đủ để người của mình có thể lần theo nhưng không đủ để trở thành mục tiêu rõ ràng. Ông hiểu rằng từ thời điểm này, mình không còn là một phi công mà là một mục tiêu đang bị săn đuổi.
Phản ứng từ phía Iran đến nhanh và có tổ chức, các đơn vị đặc nhiệm được triển khai, thiết bị dò tín hiệu quét liên tục, từng khu vực bị chia nhỏ để kiểm soát. Tin đồn lan ra các khu dân cư gần đó cùng với phần thưởng đủ lớn để bất kỳ ai cũng có thể trở thành người truy tìm. Trong khi đó, ở bên kia bán cầu, tại Lầu Năm Góc, mọi thứ vận hành với nhịp độ chính xác đến lạnh lùng, các dữ liệu liên tục cập nhật, các phương án được tính toán rồi loại bỏ cho đến khi chỉ còn lại lựa chọn khả thi nhất. CIA tung ra một tín hiệu giả về một chiến dịch giải cứu từ hướng biên giới Iraq, đủ để kéo lệch phần lớn lực lượng truy lùng và tạo ra một khoảng trống nhỏ ở phía Nam.
Trong gần hai ngày tiếp theo, viên Đại tá di chuyển chậm rãi giữa địa hình hiểm trở, tiết kiệm từng ngụm nước, từng chút sức lực còn lại. Cổ họng khô rát, cơ thể phản ứng chậm dần, nhưng kỷ luật sinh tồn vẫn được giữ vững. Ông không cho phép mình hoảng loạn, cũng không nghĩ đến việc đầu hàng, vì ông hiểu rõ một điều mà những người lính như ông luôn tin tưởng: Nếu còn sống đủ lâu, họ sẽ đến.
Sáng ngày thứ hai, khi các vệ tinh xác nhận lực lượng Iran đã áp sát vị trí của ông chưa đầy một cây số, quyết định cuối cùng được đưa ra. Ngay sau đó, bầu trời phía trên vùng núi thay đổi, các máy bay không người lái MQ-9 Reaper xuất hiện và khai hỏa với độ chính xác cao, từng quả tên lửa Hellfire đánh trúng các điểm then chốt để mở ra một hành lang an toàn trong thời gian ngắn nhất. Giữa khoảng trống đó, một chiếc V-22 Osprey hạ thấp độ cao, luồn qua địa hình hiểm trở với sự chính xác gần như tuyệt đối, cửa mở ra và đội đặc nhiệm lao xuống, di chuyển nhanh, dứt khoát, không có động tác thừa.
Một người cất tiếng gọi lớn: “Đại tá, nếu nghe thấy thì trả lời.” Trong một khe đá sâu, viên Đại tá mở mắt, mất vài giây để nhận ra đó không phải ảo giác, rồi dồn chút sức lực còn lại để đáp: “Tôi ở đây.” Hai đặc nhiệm tiếp cận, đỡ lấy ông, một người nói ngắn gọn như một lời xác nhận đã được hứa từ trước: “Chúng tôi đưa ông về.” Viên Đại tá khẽ gật đầu, hơi thở nặng nề nhưng ánh mắt đã trở lại bình tĩnh: “Tôi biết các cậu sẽ đến.”
Việc rút lui diễn ra nhanh không kém lúc tiếp cận, chiếc Osprey cất lên khi những loạt đạn bắt đầu truy đuổi, phía sau là các đợt không kích tiếp tục dội xuống để cắt đứt mọi nỗ lực bám theo. Toàn bộ chiến dịch diễn ra trong chưa đầy mười lăm phút.
Khi máy bay đã ra khỏi khu vực nguy hiểm, không ai nói gì, không có sự ăn mừng, chỉ là sự im lặng quen thuộc của những người đã hoàn thành nhiệm vụ. Viên Đại tá tựa lưng vào thành khoang, nhắm mắt lại, cảm nhận rõ ràng từng nhịp rung của động cơ đang đưa mình rời khỏi nơi mà chỉ vài giờ trước còn là ranh giới giữa sống và chết.
Ở bên kia bán cầu, tại Washington, thông tin cuối cùng cũng được công bố. Donald Trump xuất hiện trước công chúng với một thông điệp ngắn gọn, gần như không che giấu sự hài lòng: “Chúng ta đã đưa ông ấy về. An toàn. Không ai bị bỏ lại.” Một câu nói đơn giản, nhưng phía sau nó là hàng trăm con người, hàng chục máy bay và một chiến dịch mà chỉ cần sai một bước nhỏ cũng có thể biến thành thảm họa.
Trong khoang máy bay lúc đó, không ai nghe bài phát biểu ấy. Họ không cần nghe. Vì điều họ vừa làm không phải để kể lại, mà là để đảm bảo một điều đã trở thành nguyên tắc: khi một người còn ở lại phía sau, sẽ luôn có người quay lại tìm.
Và lần này, họ đã làm được.




Tiếp nối câu chuyện về cuộc giải cứu nghẹt thở viên Đại tá phi công F-15E mà tôi đã chia sẻ, nhiều bạn thắc mắc về 2 chiếc máy bay C-130 và những quầng lửa rực trời ở biên giới trong đêm đó. Đằng sau nụ cười bình yên của người trở về là một "Kế hoạch B" khốc liệt mà ở đó, những cỗ máy triệu đô buộc phải nằm lại để đổi lấy sinh mạng con người.
-----
Bài trước - 48 GIỜ TRONG LÃNH THỔ ĐỐI PHƯƠNG:
-----
PHỤ CHƯƠNG: “CHIẾC Ô SẮT” TRÊN BẦU TRỜI PHÍA NAM TEHRAN
Nếu nhìn từ trên cao xuống phía Nam Tehran trong đêm đó, người ta sẽ không thấy một cuộc rút lui, mà là một hệ thống chiến đấu đang vận hành ở mức hoàn hảo, nơi mọi thành phần đều khớp với nhau đến từng giây. Ở trung tâm của hệ thống ấy là cặp MC-130J Commando II, không chỉ đóng vai trò vận tải và tiếp dầu mà còn trực tiếp tham chiến, bay thấp, quét mục tiêu bằng cảm biến hồng ngoại và điều phối hỏa lực cho toàn bộ chiến dịch.
Dữ liệu từ chúng được truyền gần như tức thì tới các biên đội yểm trợ, trong đó có A-10 Warthog, tạo thành một mạng lưới tấn công liên hoàn. Những vị trí có nguy cơ cao bị đánh dấu và dập tắt trước khi kịp hình thành mối đe dọa thực sự. Đồng thời, từ thân máy bay, các chuỗi pháo sáng được phóng ra liên tục, kéo dài và xoắn lại trên bầu trời thành một “vòng lửa” đúng nghĩa, đánh lạc hướng các tên lửa tầm nhiệt và giữ cho hành lang bay luôn mở.
Dưới lớp bảo vệ đó, những chiếc MH-6 Little Bird, mặc dù không không đủ nhiên liệu để bay xa, nhưng chúng nhỏ bé linh hoạt nên có thể luồn lách giữa các khe núi hẹp, lao vào điểm tiếp đất, chạm xuống trong vài chục giây, kéo viên sĩ quan bị bắn rơi lên rồi rút khỏi khu vực ngay lập tức. Chỉ khi đã thoát khỏi vùng nguy hiểm, tại một điểm an toàn được kiểm soát, việc chuyển người mới diễn ra, nhanh, gọn và chính xác, đưa anh sang chiếc V-22 Osprey để bắt đầu hành trình rời khỏi lãnh thổ.
Nhiều người sẽ tự hỏi những con 'Chim nhỏ' MH-6 này từ đâu ra khi chúng không thể bay qua đại dương? Thực chất, chúng là những sát thủ nằm gọn trong bụng các 'gã khổng lồ' MC-130J, được tung ra ngay giữa lòng địch như một đòn đánh bất ngờ mà không radar nào kịp trở tay. Sự kết hợp giữa sức mạnh của C-130 và sự linh hoạt của MH-6 chính là chìa khóa mở toang cánh cửa tử thần đêm đó.
Giai đoạn chiến đấu trên không kết thúc gần như hoàn hảo. Nhưng chiến dịch vẫn còn một mắt xích sống còn, điểm trung chuyển tại Isfahan.
Đó là một sân bay dã chiến của Iran đã bị bỏ hoang từ lâu, một đường băng cũ với lớp nhựa nứt vỡ dưới nắng sa mạc. Chính thời gian đã biến nơi này thành một cái bẫy hoàn hảo. Bề mặt phía trên khô và cứng, đủ để đánh lừa mọi quan sát nhanh, nhưng bên dưới là lớp cát mịn và đất xốp đã mất kết cấu chịu lực. Một cấu trúc phân lớp mà chỉ cần một tải trọng lớn đặt lên là sụp xuống.
Khi chiếc MC-130 đầu tiên giảm tốc để vào vị trí tiếp dầu, toàn bộ trọng lượng hàng chục tấn dồn lên hệ thống càng đáp. Lớp vỏ bên trên vỡ ra gần như ngay lập tức. Bánh đáp lún xuống nhanh, từ vài centimet đến nửa bánh chỉ trong vài giây. Phi công phản xạ tăng lực, nhưng chính điều đó khiến tình hình xấu đi. Cát không tạo lực đẩy, bánh quay trơn và đào sâu thêm, kéo thân máy bay xuống thấp hơn, phá vỡ hoàn toàn khả năng cất cánh.
Chiếc thứ hai, trong quá trình cơ động quay đầu trên đường băng hẹp và nứt vỡ, cũng phá vỡ lớp bề mặt tương tự. Một cú lún không hoàn toàn nhưng đủ để gây quá tải khi tăng lực thoát ra, dẫn đến hỏng hệ thống thủy lực và mất khả năng vận hành. Chỉ trong vài phút, hai khung thân MC-130J Commando II trở thành những cỗ máy bất động trên chính điểm trung chuyển mà chúng vừa thiết lập.
Lúc này, chiến dịch không còn được quyết định bởi kế hoạch mà bởi thời gian và khoảng cách. Các tín hiệu cảnh báo cho thấy lực lượng đối phương đang tiến gần. Không còn cách nào để sửa chữa hay kéo máy bay ra khỏi bẫy cát.
Quyết định được đưa ra ngay lập tức.
Bỏ lại.
Một biên đội khác được điều vào. Từng nhóm người được bốc đi theo trình tự đã được huấn luyện đến mức bản năng. Không ai nhìn lại, nhưng tất cả đều hiểu giá trị của những gì đang bị bỏ lại phía sau không nằm ở khung thân, mà ở những công nghệ và dữ liệu mà chúng mang theo.
Khi người cuối cùng rời khỏi mặt đất, quy trình cuối cùng bắt đầu.
Thermite được kích hoạt. Không có tiếng nổ lớn, chỉ là ánh sáng trắng dữ dội lan ra từ thân máy bay, nung chảy kim loại và phá hủy toàn bộ hệ thống điện tử, radar và liên lạc. Từ trên cao, các vệt cháy hiện lên rõ ràng, tròn và tập trung, dấu hiệu của một quá trình tiêu hủy có kiểm soát. Các hình ảnh vệ tinh sau đó cho thấy hai khung thân nằm nguyên trên đường băng, không vỡ vụn, không phân tán, một kết cục được quyết định chứ không phải ngẫu nhiên.
Khi chiếc máy bay cuối cùng rời khỏi không phận, mang theo toàn bộ con người của chiến dịch, phía dưới chỉ còn lại hai vết cháy đang nguội dần trên nền cát tối. Không ai trong khoang nói gì, vì không cần phải nói.
Họ đã hoàn thành điều cốt lõi nhất của một chiến dịch đặc nhiệm hiện đại, đưa người của mình trở về.
Trong đêm đó, cái giá phải trả không phải là thất bại, mà là sự lựa chọn có chủ đích, thiêu rụi những cỗ máy đắt giá nhất để bảo vệ thứ quan trọng hơn nhiều, con người, và những bí mật không bao giờ được phép ở lại phía sau.
-----
Viết cho những giá trị không thể đong đếm bằng tiền.