Wednesday, January 13, 2010

"Thái Dương" NGUYỄN VĂN XANH



Một người như mọi người!
* William S. Reeder
(Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)


Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người "anh hùng" được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku).


Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn g=E 1n trong phần tổn thất của quân bạn: "Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích". Chấm hết!


Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. NHT
* * *
Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nh ì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài...


Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt t5n công mà người Mỹ quen gọi là "Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972" (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây.
[1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụ ng "Mùa Hè Đỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"]
Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.


Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.
Hôm đó là ngày=2 09 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung v ới tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!


Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng20thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.
Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã20vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.


Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.
Sau khi cất cánh khỏi phi trường Ko ntum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.


Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật20chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc... Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.


Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngC3y trước khi bị bắt.
* * *
Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần.. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá.


Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai20cái hamburger còn sống.


Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì c ng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái "cầu" này để vào trại.
Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bB gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!


Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.
"Nhà vệ sinh" này thực ra chỉ là vài c i hố xí để bạn phóng uế xuống. "Vấn đề" là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có "nhu cầu", người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là "nhà vệ sinh" ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không c bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.


Theo ký ức của tôi thì nước uống không có "vấn đề". Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có "vấn đề".. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được "chiêu đãi" bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây "yucca" ở châu Mỹ La-tinh... Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hB được cạo râu.
Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.


Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.
* * *
Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!


Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố g=E 1ng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi "phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi", tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.
Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.
Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát... Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái n gược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.
* * *
Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.


Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, lA 1i còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lFm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.


Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.
Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực.. Tôi loạng quạng bước đi.. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại20ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn... Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!


Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậ y, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày.. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.
* * *
Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bư ớc đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây "cầu" bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng v0o người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!


Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm cB 4ng việc áp giải.
Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới "khách sạn Hilton - Hà Nội" lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.
* * *
Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.


Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.
Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho "trang chủ" mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong m t ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.


Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, tr ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.
Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

Monday, January 11, 2010

HÒA BÌNH" ƠI ! VĨNH BIỆT CHÀO MI



Vào những ngày cuối tháng 1 năm 1973 trước khi Hiệp Định Paris được ký kết.. Lúc đó Liên đoàn 3 BĐQ vừa trở lại Bình Long để tiếp tục trấn giữ phòng tuyến mà mấy tháng trước đây Liên đoàn đã hãnh diện được sát cánh cùng nhiều đơn vị ưu tú của QLVNCH quyết tử thủ để giữ vững tỉnh lỵ này,đã cùng quân dân cả nước viết lên thiên hùng ca BÌNH LONG ANH DŨNG, KONTUM KIÊU HÙNG, TRỊ THIÊN VÙNG DẬY

Chiều ngày 26 tháng 1 năm 1973, vừa mới về đến căn cứ Lam Sơn sau hai ngày đại đội hành quân đơn độc thăm dò họat động địch cách căn cứ Tống Lê Chân khoảng 5 km về hướng đông, chưa kịp tắm rửa thì được gọi lên BCH/TĐ họp, vừa vào đến tôi đã thấy đầy đủ mặt bá quan văn võ, tiểu đoàn trưởng thiếu tá Trần Đình Nga, tiểu đoàn phó thiếu tá Huỳnh Công Hiển, trưởng ban 3 thiếu tá Nguyễn Thế Kỳ,đđt/ đđ1 đại úy Phạm Bá Thọ, đđt/đđ2 trung úy Nguyễn Văn Phú, đđt/đđ3 đại úy Nguyễn Văn Huy và đđt/đđ4 là tôi trung úy Đoàn Trọng Hiếu cùng các sĩ quan tham mưu khác. Sau khi trưởng ban 3 thuyết trình hành quân nêu rõ mục đích của cuộc hành quân là ''dành dân chiếm đất" mở rộng vùng hoạt động trước khi Hiệp Định Paris sẽ được thực thi vào 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, đại đội 2 và đại đội 4 của chúng tôi được giao nhiệm vụ tham dự cuộc hành quân này duới sự chỉ huy của thiếu tá Hiển tiểu đoàn phó, đại đội 4 được giao nhiệm vụ làm nỗ lực chính hay nói nôm na là húc và đại đội 2 đi sau với bộ chỉ huy nhẹ, nói là bộ chỉ huy nhẹ cho nó oai chứ vỏn vẹn chỉ có tiểu đoàn phó và hai người mang máy truyền tin PRC25 , cùng hoạt động song song với chúng tôi là hai đại đội của tiểu đoàn 31 BĐQ do thiếu tá Đào Văn Năng chỉ huy. Sau khi báo cáo khả năng tham chiến của đại đội là 73 người , đây là con số khá cao của một đại đội BĐQ, lần cao nhất là 89 khi tôi dẫn đại đội nhảy vào tử thủ 3 tháng cũng tại Bình Long này vào ngày 6 tháng 4 năm 72 trước đây. Tôi nhận một bản photo Hiệp Định Paris và gần chục lá cờ VNCH và toan đứng dậy trở về phòng tuyến đại đội thì thiếu tá Hiển gọi tôi lại và kéo tôi về hầm của ông


- Vào đây làm ly cà phê đã mày, để tao nói tụi nó gọi thượng sĩ Thóc (thường vụ đại đội) lên cho mày.


Nói xong ông kêu anh đệ tử làm hai cái phin và bước sang hầm truyền tin bảo gọi th/s Thóc, trong lúc chờ đợi tôi leo lên nóc hầm ngồi và châm điếu Bastos xanh hít một hơi dài rồi lãng đãng nhả khói thành từng chữ O nhỏ, lúc phin càphê vừa ngưng chảy thì th/sThóc đến,tôi bảo ông mang ngừơi lên lãnh hai ngày lương tươi và gọi các trung đội trưởng nửa tiếng nữa lên gặp tôi tại ban chỉ huy đại đội .Nhắp từng ngụm càphê , tôi tận hưởng mùi vị thơm và đắng của càphê và vị cay nồng khét lẹt của thuốc lá Bastos xanh quen thuộc từ ngày còn đi học, tôi chợt cất tiếng


- Thiếu tá gọi tôi lại có chuyện gì không vậy ?

- Thì mày cứ uống càphê đi có gì gấp gáp đâu, tao biết dạo này mày có phần hơi buồn vì ông Dậu không đề nghị thăng cấp đại úy cho mày trong trận Bình Long lý do lúc đó mày mới lên trung úy , kể ra thì cũng thiệt thòi, đám sư đoàn 5 và các đơn vị khác nó đều lên hết , tao đéo hiểu mất mát gì mà ổng làm như vậy, ông Thiệu đã tuyên bố mỗi người thăng một cấp thì cứ đề nghị thăng một cấp.


- Đó cũng là lý do thằng Đỗ Mạnh Trường sau khi xuất viện không trở về nữa, thôi chuyện cũ qua rồi quẳng nó sang một bên để vui sống, có điều tôi thắc mắc nhưng không tiện nêu ra trong buổi họp,tại sao không là đại đội nào khác húc ngày mai mà lại là đại đội tôi, thiếu tá cũng biết đại đội tôi vừa mới lội về,tôi thì không sao nhưng anh em lính tráng nó sẽ cho rằng tôi bị đì dễ nảy sinh bất mãn.


- Đây không phải là ý của anh Nga mà là ý của tao, mấy đại đội trưởng kia mới quá ,thằng Huy và thằng Thọ lại vừa từ BB chuyển sang,tao đi với mày từ ngày còn bên Campuchia, rồi về giải tỏa Bình Ba Bình Giả, Hưng Lộc, Trảng Bom, có mày tao yên tâm hơn.


Tôi chợt nói đùa với ông như chúng tôi vẫn thuờng đùa như vậy


- Chứ không phải ông lùa tôi ủi để ông bắt cái tiểu đoàn trưởng 36, đại tá Biết biết ông nhắm cái đó nên cứ nhử ông hoài , hai lần ở Hưng Lộc và Trảng Bom tí nữa chết vì ông may nhờ có cái bùa "lỗ mãng" nên thoát nạn, mẹ kiếp đúng là vô chiêu phá hữu chiêu chẳng có bài bản gì cứ nổ một cái là xung phong, mấy cái chốt hãi quá bung nóc hầm mà chạy, kiểu đánh giặc của các đàn anh Trần Thanh Thủy và Đào Văn Năng vậy mà vẫn còn hiệu quả, cái đám vịt con (VC) của hai trung đoàn 33 và 274 chủ lực miền chỉ ngửi cứt cọp 52 Sấm Sét Miền Đông là lo chém vè. Thôi tôi về cho em út chuẩn bị rồi làm một giấc cho tỉnh táo, đêm qua có ngủ gì đâu, đámVC cứ nhá đèn hiệu ở xa, mẹ !cứ sợ chúng tập trung để tấn công nên cho báo động ứng chiến cả đêm.

Về đến phòng tuyến, vừa chui vào hầm đã thấy thiếu úy Vũ văn Nghị đại đội phó, chuẩn úy Thập Lở trung đội trưởng tr/đ 1,chuẩn úy Nguyễn Minh Châu trung đội trưởng tr/đ2,thượng sĩ I Thanh trung đội trưởng tr/đ 3, cả ba trung đội trưởng này trước đây đều ở trong các đơn vị dân sự chiến đấu sau cải tuyển sang BĐQ năm 1970, thượng sĩ Thóc thường vụ cũng đã có mặt. Trải tấm bản đồ lên bàn tôi chậm rãi.
- Ngày mai 7 giờ sáng mình sẽ tập trung tại sân bay An Lộc, từ đây sẽ đi dọc theo các chốt của tiểu đoàn 36 đến tuýên xuất phát là ấp Bemoi, đại đội mình đi đầu theo sau là đại đội 2 lấy Quốc lộ 13 làm trục tiến quân, mục tiêu A,B,C và D là cầu Cần Lê, bên trái mình bên kia QL13 là hai đại đội của tiểu đoàn 31 với các mục tiêu song song là 1,2,3 và 4. Vẽ cho đẹp mắt vậy thôi chứ chưa chắc gì đã qua được cái A vì chúng sẽ chốt dầy đặc, còn nếu đến được cái D thì coi như đã gần tái chiếm lại Lộc Ninh. Ngày mai trung đội 1&2 sẽ đi cùng thiếu úy Nghị bên cánh phải dọc theo dưới suối để tạo bất ngờ, điều này có hơi nguy hiểm nên cố nương theo các lùm tre hạn chế tiếng động và coi chừng bị phục kích, khoảng cách giữa các ông và tôi trên 200 mét rừng tre nên không thấy nhau được, nếu thấy sột soạt ở bên cạnh là cứ việc nổ, đoạn đường trên 500 mét rừng tre không đáng ngại lắm nhưng khi vào tới bìa rừng cao su thì phải thật cẩn thận, lúc đó các ông sẽ ép trái để dễ quan sát và yểm trợ cho nhau, nhớ dặn anh em tuyệt đối giữ im lặng và cấm hút thuốc, luôn sẵn sàng tác chiến. Đại đội 2 sẽ có một trung đội bảo vệ phía sau cho các ông.. Có ông nào có ý kiến gì không? thiếu úy Nghị thế nào?


- Tôi đề nghị mình nên mang theo cây cối 60 để có thể yểm trợ cấp thời, nếu được thì xin phở bò làm cho vài quả sâu bên trong bìa rừng cao su 100 mét trước khi mình vào mục tiêu A.


- Tôi sẽ gặp sĩ quan đề lô yêu cầu tác xạ vào các mục tiêu trước khi mình vào, nhưng điều này coi bộ khó quá, từ xưa đến giờ họ chỉ bắn cho mình khi chạm địch, ước gì mình có pháo binh cơ hữu như thằng dù thì hay biết mấy, thứ con ghẻ như bọn mình nó chỉ biết xài như cái mền rách còn quyền lợi thì đíu có, kiếp này lỡ yêu cái mũ nâu rồi kiếp sau xin tởn tới già. Thôi các ông lấy mỗi người 3 lá cờ về nghỉ ngơi chuẩn bị cho ngày mai .


Mọi người đứng dậy về vị trí. Sau khi tắm sơ một cái và ăn tạm gói mì, tôi quay điện thoại lên tiểu đoàn xin gặp sĩ quan đề lô pháo binh yêu cầu tác xạ các mục tiêu ngày mai, viên sĩ quan cho biết sẽ chuyển yêu cầu của tôi về pháo đội, mẹ kiếp cả mặt trận Bình Long do hai liên đoàn 3 và 5 và hai tiểu đoàn địa phương quân hoạt động mà chỉ có một pháo đội 105 và hai khẩu đội 155.


Mờ sáng hôm sau anh em đã dậy chuẩn bị cơm nước cho cả ngày, tôi nhắc các trung đội kiểm tra đạn dược cho đầy đủ và yêu cầu hạ sĩ 1 Sơn Lót cho khẩu đội súng cối mang theo 3 thùng đạn đồng thời 2 hộp đạn cho cây XM202, đây là loại vũ khí chống chiến xa rất hiệu quả. Châm điếu thuốc và nhìn đồng hồ 6:45, tôi nốc cạn ly càphê và lệnh cho đại đội di chuyển theo đường tắt đến sân bay An Lộc, đại đội 2 cũng lục tục theo sau, từ sân bay sau khi tiểu đoàn liên lạc hàng ngang với tiểu đoàn 36 BĐQ để yêu cầu xác nhận lần cuối mọi mìn bẫy đều đã được gỡ, chúng tôi đi dọc theo các chốt của TĐ36 để đến tuyến xuất phát, khai triển đội hình xong tôi gọi các trung đội trưởng và thiếu úy Nghị lại gặp trước khi xuất phát.


- Các ông phải tuyệt đối thi hành những điều đã trao đổi hôm qua, đây là cuộc hành quân quan trọng hơn tất cả các cuộc hành quân trước, vì ngày mai là ngày ngưng bắn, tôi không muốn có những khinh xuất có hại cho đại đội , nói đúng hơn là không muốn có những cái chết lãng nhách do sự tắc trách của chúng ta, trongtrường hợp chạm địch phải bám chặt lấy địa thế và xử dụng tối đa phi pháo có được, an toàn cho đơn vị là ưu tiên hàng đầu, mình có thể còn phải đánh giặc cả đời chứ không phải chỉ còn có hôm nay, thôi các ông về vị trí chuẩn bị Zulu.


Lồng ngực tôi căng phồng như muốn vỡ ra, không phải vì lạnh cẳng, vì suốt mấy năm qua rong ruổi hành quân tôi chưa hề cảm thấy sợ sệt, mặc dù tôi cũng có vợ con, cha mẹ anh em như nhiều người khác, tôi vẫn yêu đời lính trận, và gắn bó với đơn vị như một phần của gia đình tôi, nếu muốn có một cuộc đời an nhàn "sáng vác ô đi tối vác về" thì tôi cũng đã có thể có được sau khi tham dự "Mùa Hè Đỏ Lửa" tại mặt trận Bình Long, vì một lần vào thăm ông chú tôi tại cư xá Trần Hưng Đạo trong Bộ TTM, tôi có gặp đại tá C là bố vợ chú tôi , ông từng có thời gian là trưởng phòng TQT/BTTM, ông ngỏ ý nếu tôi muốn ông có thể giúp tôi về một đơn vị không tác chiến, tôi đã cám ơn vì tôi bay nhảy quen rồi. Hít một hơi thật sâu rồi bảo hai người mang máy


- Lệnh cho các thằng em xe pháo (xuất phát) và báo cho 522 (tiểu đoàn phó) rõ.

Chúng tôi di chuyển thật chậm, vì rừng tre gai dầy đặc nhiều chỗ phải bò, các toán khinh binh đi đầu không được phát quang vì sẽ gây tiếng động, những con vắt trên những lá tre đang ngo ngoe đánh hơi người nhẩy xuống, không khí thật ngột ngạt, dường như mọi người đều căng thẳng không ai dám bật tiếng ho, chưa bao giờ căng thẳng như vậy, 3 tháng tử thủ Bình Long những lúc bị chiến xa tấn công, hay ngày triệt thoái khỏi Dambe sau khi tướng Đỗ Cao Trí tử nạn cũng chưa căng thẳng như bây giờ, gần một tiếng đồng hồ chỉ nhúc nhích được hơn trăm thước, thêm hai tiếng đồng hồ nữa trôi qua, chỉ còn hơn trăm thước nữa là chúng tôi sẽ bám vào bìa rừng cao su, tôi nói hạ sĩ Vinh mang máy nội bộ gọi Thái Thanh (th/u Nghị),Thanh Lan(Th/u Thập Lở) ,Khánh Ly (Ch/u Châu) và Lệ Thu (Th/s Thanh) vào đầu máy gặp tôi.


Âm thanh lần lượt trả lời thật nhỏ vang trong ống liên hợp của Thiếu úy Nghị và các trung đội trưởng.Tôi chậm rãi ra lệnh


- Khi gần đến bìa rừng cao su Thanh Lan và Lệ Thu cho con cái dừng lại bố trí rồi cho một tổ khinh binh bò vào quan sát trước, nhớ nhắc tụi nó thật cẩn thận, nếu có gì khả nghi đích thân các anh phải lên kiểm tra và báo cho tôi ngay,tuyệt đối tránh gây tiếng động,nhận rõ chưa


Tôi nghe trong ống liên hợp cùng trả lời
-Nhận rõ Minh Hiếu 5 .


Thời gian qua đi thật chậm, cả đại đội lại nhúc nhích từng bước một, bỗng có dấu hiệu dừng lại truyền từ đằng trước xuống, hơn mười phút sau thiếu úy Thập Lở báo cho biết đã phát hiện một toán việt cộng ở bên trái khoảng cách gần trăm mét ở hàng cao su thứ hai nhưng vì cỏ tranh cao nên không rõ quân số bao nhiêu. Tôi cho gọi các trung đội trưởng vào đầu máy.


- Thái Thanh (đđ phó) cho thằng 1 dàn phía trước, tìm vị trí tốt cho con gà cồ M 60, thằng 2 lên cao bảo vệ hông phải cho thằng 1, thằng 3 cũng dàn về phía trước,địch đang ở bên phải của anh, nhớ khai hỏa đồng loạt,khi tất cả vào vị trí Thái Thanh sẽ hạ lệnh khai hỏa. Tất cả thi hành.


Tôi báo cho th/t Hiển biết là đã phát hiện địch và đang cho khai triển đội hình tấn công, yêu cầu đề lô cho pháo binh chuẩn bị tác xạ vào tọa độ X, hạ sĩ nhất Sơn Lót đã đặt xong cây cối 60. Không đầy 5 phút sau mọi trung đội đã vào vị trí thì lệnh khai hỏa bắt đầu, hỏa lực của hai trung đội 1&3 được tập trung bắn chéo cánh sẻ đan thành lưới đạn khiến bọn VC bị bất ngờ hoảng hốt, vài tên bị đốn ngã, gần chục tên khác bỏ chạy về phía sau, đơn vị VC ở phía sau bắt đầu đáp trả bằng nhiều loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng, tôi ra lệnh cho các trung đội tiến chiếm lấy 3 hàng cao su để có chỗ che chắn tránh thiệt hại bởi B40, yêu cầu pháo binh tác xạ khẩn cấp vào tọa độ đã yêu cầu trước, vì tác xạ qua đầu và khoảng cách giữa ta và địch chỉ hơn trăm thước nên sau 3 lần điều chỉnh cắt đoạn để tránh tản đạn tôi yêu cầu bắn hiệu quả trung đội 10 quả, bọn VC cũng chẳng vừa cối 82 và 107 của chúng từ trong phía đông Quản Lợi bắt đầu rót vào trận địa nhưng không chính xác, pháo 130 từ hướng Lộc Ninh cũng rót vào thành phố để quấy rối,lúc này nhiều đơn vị cũng đã chạm địch, đạn nổ từ phía Quản Lợi, phía Phú Lô, phía nam Xa Cam, phía bên trái chúng tôi là đơn vị của tiểu đoàn 31 cũng bắt đầu chạm phía cao hơn chừng vài trăm thước, mẹ kiếp đụng khắp nơi mà chỉ có vài khẩu pháo thì thằng nào ăn thằng nào nhịn, khẩu đội súng cối 60 bắt đầu yểm trợ nhỏ giọt cho tuyến trên rất hịệu quả. Hơn một giờ giao tranh đã có 4 binh sĩ bị thương được chuyển ra phía sau nhờ đại đội 2 tải thương,bỗng có đại úy Khuê phụ tá ban 3 liên đoàn cần gặp, tôi vội cầm ống liên hợp


- Minh Hiếu tôi nghe đây Kinh Kỳ


- Có mấy con đại bàng lên, giành mãi mới được, tao giao nó cho mày, con Loan 19 nó sẽ liên lạc với mày trong vòng dăm phút nữa khi nó vào vùng, nhớ đánh cho có hiệu quả hàng đang khan hiếm đừng phung phí, ông già (đại tá Biết liên đoàn trưởng) gởi lời thăm nhắc mày cẩn thận.
Bọn VC có lẽ đã ước đoán được lực lượng của chúng tôi nên chúng đột nhiên nổ súng dữ dội để áp đảo rồi cho một lực lượng khoảng 30 tên xuất kích chọc thẳng vào khoảng cách giữa hai trung đội, có lẽ chúng muốn đánh thẳng vào ban chỉ huy đại đội, hoặc sẽ đánh bọc đít cánh quân bên phải, mặc dù tuyến trên cũng xử dụng tối đa hỏa lực ngăn cản nhưng chỉ gây thiệt hại và làm chậm sức tiến của chúng, những tên đi đầu đã lọt được vào khu rừng tre, tôi vội vàng xin đại đội 2 dâng lên cao hơn gần tôi để dễ tiếp cứu. May mắn vừa lúc đó chiếc L19 đã quần trên đầu


- Mũ nâu đây Loan mắt nhung nghe được tôi không trả lời.


Cầm ống liên hợp do Hạnh đưa tôi vội trả lời:
- Mũ nâu tôi nghe bạn rất tốt,tôi cần mấy đứa em bạn đánh liền


- OK chúng đang chờ, tôi chỉ cho bạn một nửa vì còn dành cho đơn vị khác, xin chỉ định mục tiêu ngay.


Tôi quyết định thật nhanh nhưng cũng thật táo bạo và nguy hiểm


- Tôi sẽ quăng trái khói đỏ,từ đó bạn đánh về đông 50, bắc 50, Xin đánh theo trục nam-bắc vì chúng tôi đang ở hai bên của mục tiêu không đầy 100 thước.


- OK nhận bạn rõ, bạn yên tâm đây là bọn A 37 nên rất chính xác, cho quăng trái khói liền.
Tôi rút vội trái khói đỏ dùng hết sức ném về hướng đông, và lệnh cho các trung đội nằm rạp xuống để tránh bom


- Thấy rồi,sẽ làm đúng ý bạn , xin cho con cái cẩn thận. Từ đằng sau chiếc A37 xuống thật thấp trút bom, hai tiếng nổ tưởng như rách màng tai, sức chấn động nhấc người tôi lên khỏi mặt đất làm rơi chiếc mũ sắt, chưa kịp nhặt lên thì chiếc thứ hai đã lao xuống, hai trái napal tạo thành một biển lửa nóng rát mặt, gần chục tên may mắn sống sót sau trận bom chạy thục mạng về, có vài tên sợquá đã la lên:


- Đừng bắn nữa các anh Biệt Động Quân ơi! mai hòa bình rồi.


Chiếc L 19 cho biết đã đánh rất chính xác theo yêu cầu, chào tạm biệt và rời vùng. Thêm 3 binh sĩ bị thương nhẹ vì chấn động và đất đá văng vào, phi tuần A37 với hai pass bom liều mạng đã xoay chuyển tình hình, đám VC có lẽ đã xuống tinh thần sau thất bại thảm hại của lần xuất kích, cường độ của trận đánh cũng bắt đầu giảm dần theo ánh chiều tà, mới 4 giờ chiều trong rừng cao su đã không còn ánh nắng, súng nổ cũng đã ngớt dần rồi im hẳn, th/u Nghị hỏi tôi có cho lục soát mục tiêu không, tôi gọi th/u Nghị vào máy dặn dò.


-Tao nghĩ thế đủ rồi, không cần thiết phải lục soát, đám VC chắc không dám phản công nữa đâu, mày có nghe tụi VC bỏ chạy chúng la cái gì không? chẳng biết hòa bình hư thực thế nào nhưng thằng lính đéo nào mà chả mong, rất may mình chỉ có 7 em bị thương nhưng không nặng lắm chỉ đủ để về quân y viện nằm ít ngày, mày cho anh em thay phiên canh chừng và cho lui về bìa rừng tre đào hố phòng thủ hai người, tối đến trước khi lui về tuyến phòng thủ cho anh gài hết đồ chơi, đêm nay tuyệt đối không ai đuợc cởi giầy, hai người một hố thay nhau thức, ráng sống đến ngày mai để nhìn hòa bình,bên đây tao và thằng 3 cũng làm như vậy.

Nói xong tôi cho gọi th/s nhất Thanh và th/s Thóc đến dặn dò, rồi gọi cho thiếu tá Hiển tiểu đoàn phó trình bày ý định và được ông đồng ý, ông cũng cho biết ông và đại đội 2 sẽ đóng quân tại tuyến xuất phát ,nhưng vẫn để một trung đội nằm đằng sau cánh quân bên phải chừng 200 thước. Sau khi khai triển hệ thống phòng thủ,tôi thiết lập các điểm tiên liệu pháo binh và gởi cho sĩ quan đềlô, hơn một giờ sau th/u Nghị báo cáo hệ thống hầm hố phòng thủ đã xong, mọi hố đôi đều được đào đủ sâu và rộng cho hai người,tôi cũng đích thân kiểm tra phòng tuyến bên này, quả thật khác với những lần đóng quân đêm trước, lần này chẳng cần đôn đốc nhắc nhở, ai cũng muốn mình còn sống để sáng sớm mai đây được nhìn thấy hòa bình nên hố nào cũng đạt yêu cầu.

Mẹ kiếp ! ngày mai hòa bình thằng đếch nào mà chẳng muốn sống.Tôi cũng thế, sau hơn 4 năm quen đời lính trận, vẹt gót giày sô từ chiến trường nội địa đến ngoại biên, chưa một lần đi phép thường niên để có đủ 7 ngày phép bù khú với vợ con, bạn bè đồng đội nhiều thằng đã thành tàn phế, cũng có nhiều thằng đã về vùng 5 miên viễn chiêm bao, lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh tôi cũng khát khao được sống để nhìn cuộc chiến tàn lụi, trên cương vị đại đội trưởng tôi cũng không muốn bất cứ thuộc cấp nào phải chết trong ngày và đêm hôm nay, làm sao tôi có thể trả lời khi có người hỏi tôi "trung úy ơi! hòa bình rồi mà sao chồng con tôi lại chết?" vâng chết vào giờ thứ 23,24 hoặc 25. Đám cán binh VC kia dù có bị nhồi sọ điên cuồng đi "giải phóng miền Nam ", dù có bị mang ra phê bình kiểm thảo thanh trừng, cũng không đứa nào muốn phải chết hôm nay, chúng cũng còn muốn nhìn thấy hòa bình, ngay kể cả các cấp chỉ huy cấp thấp hay cao hơn nữa của chúng cũng còn muốn thấy như vậy. Chỉ có đám lãnh đạo chóp bu của Hà Nội và đám đầu cơ làm giàu trên thân xác người lính VNCH mới ghét hòa bình và cổ võ chiến tranh.

Trải tấm poncho bên cạnh cái hố, nhai vội vài miếng cơm vắt với con khô sặc, từ sáng đến giờ chưa ăn gì nhưng không cảm thấy đói, tôi vẫn có thói quen ăn ít uống nhiều, càphê ngày cũng dăm bảy cữ , vừa ngả lưng gối đầu lên chiếc nón sắt thì th/s Thóc thường vụ mang đến ca càphê nóng hổi, tôi biết tỏng là lại dùng C4 để nấu, ông ngồi xuống và rót cho tôi một nửa và thắc mắc hỏi tôi


- Mai hòa bình thiệt rồi hả trung úy, cả ngày nay tôi chỉ sợ trung úy cho xả láng như những lần trước, tôi lo quá mà không dám hỏi.
- Ừ thì ngày mai thi hành hiệp định Paris, ai ở đâu ở đó, chắc rồi sau đó sẽ có hòa bình, còn hòa bình kiểu nào thì tôi cũng chịu, đêm nay ông cùng th/sThanh chịu khó đi kiểm tra thường xuyên cho tôi, có thể chúng không tấn công đâu, nhưng chúng sẽ pháo. Này ông Thóc ,nếu hòa bình rồi thì ông làm gì ?


- Tôi hiện dịch không biết có cho giải ngũ không, quê tôi ở Sađéc nếu được giải ngũ tôi sẽ theo nghề ông già là làm bánh phồng tôm.


- Ông còn có nghề chứ như tôi rời ghế nhà trường là vào lính, học hành dang dở, nửa thầy nửa thợ, mà thôi hơi sức đâu lo xa, tới đâu hay tới đó.


Con trăng non đã lú qua đầu ngọn tre gai, nay đã khoảng mùng mười tháng chạp , chỉ còn độ hai chục ngày nữa là lại Tết, cả hai chúng tôi bắt đầu im lặng, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng tư, hình ảnh của thời còn đi học lúc ẩn lúc hiện xen lẫn với hình ảnh của những ngày giầy sô áo trận cứ lởn vởn trước mắt, cái quán cà phê chồm hổm đối diện trường Văn Học trên đường Phan Thanh Giản chúng tôi thường ngồi mỗi buổi sáng trước khi vào học, bắt chước mấy ông đạp xích lô đổ càphê ra dĩa vừa thổi vừa uống, hay những hôm trốn giờ luận lý học của LM Trần Văn Hiến Minh cả bọn kéo xuống Cà phê Thư Hương đối diện trại hòm Tobia ở Tân Định, hay những ngày đóng quân ở Mimot mỗi chiều về mấy thằng lại cùng nhau cưa một bình 5 lít với soài xanh và khô sặc dầm nước mắm ớt trước khi đi kích đêm trong khu rừng cao su âm u bạt ngàn...


Đang mơ màng thì lại nghe tiếng đề pa, chụp vội chiếc nón sắt lăn xuống hố, không nghe đạn rít trên đầu, vậy là không phải mình, hơn chục quả nổ trong thành phố, nhìn đồng hồ mới hơn 10 giờ, không biết đêm nay sẽ phải nhẩy xuống hố bao nhiêu lần đây (sau này tôi đuợc biết đợt pháo này đã liếm mất một cái chân của trung tá Ngô Minh Hồng liên đòan trưởng LĐ5, và một đại tá cố vấn Mỹ hy sinh). Tôi nghiệm ra rằng tiếng đề pa từ phía bắc tức là pháo vào thành phố, còn từ phía đông tức là pháo vào chúng tôi, hồi chiều chúng đã gởi đến mấy chục trái nhưng đều vọt qua đầu, không biết có dính vào TĐ31 không ?

May mắn thay đựơc yên đến gần sáng, khoảng gần 6 giờ sáng tiểu đoàn cho biết đúng 8 giờ chuông nhà thờ trong thành phố và trong Quản Lợi sẽ đổ một hồi dài, các đơn vị cho bắn mấy trái signal để làm hiệu bắt đầu thi hành hiệp định, tôi báo cho các trung đội rõ để thi hành, rồi gọi hạ sĩ Tào Khén nấu cho ca càphê. Thời gian chờ đợi để đón hòa bình sao trôi qua thật chậm, thỉnh thoảng lại nhìn đồng hồ, chiếc kim dài làm như không chạy nổi, sự bồn chồn nôn nóng chờ đợi khiến tôi đâm lo lắng, e có điều gì bất trắc sẽ xảy ra, linh tính có gì không ổn và điều này vẫn thường xảy ra và đúng, tôi lệnh cho đại đội báo động trong tư thế sẵn sàng tác chiến, không đầy mười phút sau những tiếng đề pa từ hướng đông vọng đến, gần hai chục quả nổ sát phòng tuyến không đầy 50 thước, mẹ cha nó chỉ còn non nửa giờ nữa mà chúng cũng còn cố vớt vát cú chót, chuẩn bị hòa bình kiểu này thì đíu khá được, chẳng biết hòa bình rồi sẽ tồn tại bao lâu.
ng 8 giờ khi chuông nhà thờ đổ, các đơn vị đều cho giựt signal lên,tôi lệnh cho các trung đội vẫn phải đề cao cảnh giác, cho đặt các vọng gác cẩn thận rồi cho căng cờ lên, mười lá cờ vàng trải dọc theo bìa rừng cao su đánh dấu vị trí gần nhất đối diện với tuyến VC, gần một tiếng sau từ bên phía VC có tiếng la to


- Cấp chỉ huy bên đây muốn nói chuyện với cấp chỉ huy bên đó.
Thiếu úy Nghị gọi máy hỏi tôi tính sao , tôi trả lời


- Tao sẽ sang gặp tụi nó, mày cho em út gỡ đồ chơi dọn một lối đi và cho tụi nó sẵn sàng, có gì bất trắc tao la lên thì cứ nổ.


Tôi cũng báo cho th/tá Hiển là tôi sẽ đi gặp tên chỉ huy đơn vị Việt cộng. Lấy chiếc beret nâu đội lên, tôi đi người không tiến ra khỏi phòng tuyến của đơn vị hơn năm mươi thước rồi dừng lại, từ phía bên kia một tên trong bộ kaki Nam Định, vai đeo cái sắc cốt, cây K54 ngang hông tiến đến, tôi đưa bàn tay cho hắn bắt và tự giới thiệu:


- Tôi là trung úy Hiếu cấp chỉ huy Biệt Động Quân.
Tôi không nói tôi là đại đội trưởng vì e hắn sẽ đoán được lực lượng của mình, hắn cũng tự giới thiệu


- Tôi là Cao, chính trị viên tiểu đoàn,là đơn vị đối đầu với đơn vị của trung úy, ngày hôm qua bên ấy có ai bị gì không, nếu có tôi xin chia buồn.


Thấy thái độ "nhân nghĩa bà tú Đễ"của hắn tôi cuời thầm trong bụng


- Cám ơn anh, rất may chỉ có vài anh em bị thương nhẹ, còn bên anh thì sao ?


- Chúng tôi có mười sáu chiến sĩ hy sinh trong đó có thiếu úy Phú đại đội trưởng. Tôi muốn gặp trung úy để thứ nhất trung úy cho chúng tôi nhận lại số anh em chết còn ở phía bên khu vực của anh. Thứ hai là chúng ta bàn về lệnh ngừng bắn. Thấy không thể giải quyết yêu cầu đầu tiên của hắn liền ngay được, và khả năng về chính trị của mình thật sơ đẳng nên tôi trả lời:


- Đầu tiên xin anh cứ gọi tôi là Hiếu cũng như tôi gọi anh là anh Cao, yêu cầu thứ nhất của anh tôi sẽ xin chỉ thị ở cấp trên, nếu cấp trên đồng ý tôi sẽ cho mang số anh em đó ra đây và gọi anh đến nhận, điều thứ hai là bản hiệp định đã được hai chính phủ ký chúng ta không có điều gì phải bàn, để thực thi hiệu quả và dễ nhất là nếu anh thấy chúng tôi vượt qua hàng cao su mà anh và tôi đang đứng đây thì anh cứ cho nổ súng, và chúng tôi cũng vậy mong rằng chúng ta hãy tôn trọng để tránh đổ máu vô ích.Giờ thì chúng ta hãy nói những chuyện khác.


- Nếu anh không muốn bàn về Hiệp Định thì thôi, cứ tạm chấp nhận giải pháp của anh, thỉnh thoảng chúng ta nên gặp nhau để thiết lập quan hệ bình thường, có điều tôi thắc mắc là dường như đa số sĩ quan trong quân đội miền Nam đều là người Bắc.


Chẳng biết hắn căn cứ vào đâu để nói như vậy, tuy nhiên tôi cũng nói thêm để hắn tin rằng điều hắn nói là đúng.


- Có thể điều anh nói là đúng, vì ông bà cha mẹ chúng tôi đã phải di cư vào Nam vì không sống được với Cộng Sản, giờ các anh lại vào đây để quấy phá dĩ nhiên là chúng tôi cũng như con cháu chúng tôi sau này phải chống lại.


Đang nói đến đây thì có một người đàn ông tưổi ngoài bốn mươi mặc chiếc quần đen và cái áo sơmi trắng đã ngả sang màu cháo lòng đi chân đất tiến đến, theo sau là hai tên cận vệ đeo AK47,Cao bèn chỉ tay vào người đàn ông giới thiệu.


- Đây là đồng chí Nam Bộ Tư Long,tiểu đoàn trưởng, còn đây là trung úy Hiếu


Tôi bắt tay hắn ta, nhận thấy hắn ta mặt rỗ và nước da vàng vọt có lẽ vì sốt rét kinh niên. Sau vài câu xã giao tôi tìm cách kiếu từ vì chẳng còn gì để nói.


Tôi trình lên thiếu tá tiểu đoàn phó về việc họ muốn xin lại số bị chết nằm trong khu vực kiểm sóat của mình,đồng thời cũng để tránh phải lo chôn bọn họ nên được chấp thuận ngay, tôi cho lục soát và tìm thấy 9 xác cùng một số vũ khí, cho khiêng số xác này đến lằn ranh và gọi họ sang nhận còn số vũ khí thì chuyển giao lên tiểu đoàn.
Ngày đầu tiên thi hành Hiệp Định Paris, tạm thời không còn tiếng súng, chúng tôi ai cũng thấy hân hoan tuy có pha lẫn đôi chút ngỡ ngàng, hòa bình gì mà đến thật kỳ quái, mới hôm qua đây còn tìm mọi cách để giết nhau, thậm chí sáng nay chỉ trước giờ ngưng bắn mấy chục phút mà Việt cộng còn cố pháo vớt vát cú chót, rồi đây không biết tồn tại được bao lâu, nhưng thôi được ngày nào hay ngày nấy. Tuy nhiên dù có hòa bình thì cũng vẫn phải cảnh giác, các chốt tiền đồn được tung ra, hệ thống phòng thủ được củng cố cho vững chắc, phát quang xạ trường, tăng cường hệ thống mìn claymore tự động và trái sáng.
Chỉ sau ngày thi hành hiệp định hơn một tuần đã bắt đầu nghe tiếng súng nổ ở phía đông và phía nam, nhưng ở phía bắc của chúng tôi vẫn hoàn toàn yên tĩnh, tôi và Cao thỉnh thoảng cũng vẫn gặp nhau trao đổi chuyện trò hoàn toàn đề cập về thăm hỏi gia đình, cho đến khi trước tết vài ngày một sự việc xảy đến để rồi sau đó chúng tôi không còn gặp lại nữa.

Câu chuyện xảy ra như sau, còn khoảng gần một tuần thì Tết Nguyên Đán, đơn vị VC cho dựng một cái cổng bằng vỉ sắt trên Quốc Lộ 13 xế bên tay trái chúng tôi, họ lấy lý do là đón tiếp phái đoàn Ủy Hội Quốc Tế. Tôi trình lên trên và nhận được chỉ thị không cho họ được dựng gần mình, tôi có gặp Cao yêu cầu dời xâu về hướng bắc 500 mét, ngày hôm sau Cao cho tôi biết là cấp trên không đồng ý, tôi hạn cho anh hai ngày nữa để anh lo liệu, nếu không tôi sẽ phải hạ nó xuống, lại một lần nữa Cao trả lời trên không thuận. Sáng sớm hôm sau tôi cho đại đội ứng chiến rồi cùng khẩu đội XM202 tiến đến gần cái cổng và phóng vào một bên trụ một trái đạn, chất lân tinh bám vào trụ sắt cháy nóng trên 3000 độ khiến trụ sắt chảy ra và đổ gục xuống cháy luôn cả lá cờ "giải phóng".
Sau Tết ít ngày bọn VC bắt đầu pháo vào thành phố, hòa bình đã dần dần bị chúng phá vỡ dưới sự bao che của đám Ba Lan, Hungary và Indonesia trong Ủy Hội Quốc Tế, mặc dù bọn chúng nằm ngay trong Bình Long đã cùng hứng chịu những đạn pháo này. Cao nhiều lần muốn gặp tôi tôi đều từ chối, lần sau cùng tôi nhờ thiếu úy Nghị nói với hắn là tôi đã chết trong lúc đi vào thành phố thì bị trúng pháo của Việt cộng. Đơn vị tôi nằm tại đây thêm hai tháng nữa, nhưng cũng vẫn không xảy ra chuyện gì.

Dù sao thì chúng tôi cũng đã có một thời gian ngắn hòa bình, dù chỉ là hòa bình giả tạo. Vì thế sau này chúng tôi không còn tin có thể có hòa bình với Việt cộng nữa, ngày 30/4/75 giao tranh với bọn chúng tại Bà Hom dọc theo xa lộ Đại Hàn, bị chiến xa của chúng truy kích chúng tôi phải triệt thoái vào Tân Phú, ngang qua một đồn canh, anh em nghĩa quân đeo băng xanh hô lớn " hòa bình rồi các anh Biệt Động Quân ơi", lại hòa bình hai chữ này chẳng còn ý nghĩa gì vì tôi đã chào vĩnh biệt nó chỉ sau ngày thi hành hiệp định Paris không lâu.


Đoàn Trọng Hiếu


52 Biệt Động Quân

Tuesday, December 22, 2009

Xuân về lại nhớ những Tết năm xưa của Lính



Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,
Tao mày hiu hắt đón xuân chơi

Một thằng bộ binh đời như bỏ
Một đứa nhảy dù cũng tả tơi..


Bốn câu thơ cũ mới đó mà đã mấy mươi mùa thương nhớ, càng khiến cho người lính già thêm trơ trọi lạc lõng, giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chón quê người.. Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi, sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nỡ.


Tan tác, chia xa giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương. Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp trên các nẽo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn lẽ loi ngoài quan tái.


Ai đã từng là lính mới cãm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hửu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính “ ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh “ để rồi thui thủi “ đêm từng đêm ngó mông lung, ôm cây súng lạnh hát rừng mà nghe “..

Gần mười hai năm lính tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Ðêm trừ tịch giữa tối ba mươi cái khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh băng. Nhớ từ đâu bổng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp này. Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng, khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru một khúc tình ca của lính, nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về những mùa xuân cũ, những tết không bao giờ quên được trong cuộc đời .

1-TẾT LÍNH ÐẦU TIÊN TRÊN RỪNG NÚI MIỀN TÂY BẮC BÌNH THUẬN :

Ma Lâm xưa nay vẫn là cửa ngỏ để vào vùng tây bắc Bình Thuận hùng vĩ và đầy huyền thoại. Ma Lâm là thủ phủ của quận Thiện Giáo, nằm giữa châu thổ phì nhiêu của con sông Cả (Quao), phát nguyên tại Di Linh và ra biển Ðông tại cửa Phú Hài, có quốc lộ 12 hay còn gọi là Liên tỉnh lộ 8 hoàn thành ngày 1-10-1914, từ Phan Thiết đi Di Linh chạy ngang qua.

Ðây là biên địa cuói cùng của Vương quốc Chiêm Thành trước khi mất nước vào năm 1693, nên có nhiều người Chàm và Thượng Ba Phủ, sống tại các xã Ma Lâm Chàm, Phú Nhiêu, Sông Trao, Trịnh Hòa, Tịnh Mỹ. Nhiều địa danh như Rừng Ðú, Mang Tố, Làng Chão, Vũng Dao.. và các câu chuyện xưa về người Chàm, trên mãnh đất Bình Thuận, theo thời gian tan biến vào cát bụi nhưng vẫn còn là huyền thoại của một thời vang bóng. Cũng vì địa thế hiểm trở, chinh chiến triền miền nên quốc lộ gần như bị bỏ hoang, cũng như hầu hết miền tây bắc bi quên lãng, để mặc cho người Thượng tha hồ đốt rừng bừa bải làm rẫy, dù vùng này nếu ruộng đất được khai thác, cũng đủ cung ứng nhu cầu lúa gạo cho nhiều người trong tỉnh.

Gần Tết Âm Lịch 1964, chúng tôi gồm mười lăm đứa mãn khóa, từ Sài Gòn bổ sung cho Trung Ðoàn 43 biệt lập, lúc đó do Thiếu Tá Võ văn Cảnh (sau lên chuẩn tướng là tư lệnh Sư đoàn 23 bộ binh năm 1972), làm Trung Ðoàn Trưởng kiêm Biệt Khu Trương Biệt Khu Bình Lâm, trách nhiệm ba tỉnh Bình Tuy-Bình Thuận-Lâm Ðồng. Bộ chỉ huy biệt khu đóng tại quân Di Linh với Ðại đội trọng pháo của Ðại Uý Ngô Tất Tống và Tiểu đoàn 3/43 của Ðaiỳ Uý Công. Riêng Tiểu đoàn 1/43 của Ðại Uý Ngô văn Diệp (tử trận năm 1965 tại Trảng Bàng) và Tiểu đoàn 2/43 của Ðại Uý.Hai, thì hành quân thường trực tại Bình Tuy-Phan Thiết.

Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lủa tới Ðà Lạt nhằm lúc thiên hạ đang rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tấÔt cả là dân miền biển và miền nam, nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi cát da tím thịt trong bộ đồ trận mõng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Ðức.

Viết sao cho hết nổi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết ? dù đêm Xuân Ðà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngở như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Ðà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Ðà Lạt lại vô tình hờ hửng. Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử.

Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về Tiểu đoàn 3/43 gần mặt trời. Số còn lại bổ sung cho Tiểu đoàn 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán, mục đich khai thông quốc lộ 12 đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng.

Bộ tộc Koho sống đông đảo tại cao nguyên nam Trung Phần, có nguồn gốc pha trộn từ nhiều sắc dân Chàm, Mã Lai, Chà Và,Chân Lạp.. gồm các bộ lạc Churu, Noang, Sre,Maa, Sil, Toa, Queyong,Lat,Nop,Kodiong, Nam.. chủ yếu sống tại các tỉnh Quảng Ðức,Tuyên Ðức,Lâm Ðồng,Bình Thuận,Bình Tuy và Long Khánh. Ðược vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng, vì ngoài việc được ăn uống tự do, còn hưởng được tình người qua cử chỉ, một hành động đối với người Việt trong thời chinh chiến, hầu như đã mất mát hay nếu còn cũng chẳng qua sự giả tạo, lớp phấn hào nhoáng bên ngoài.

Vì lộ trình bị bỏ hoang lâu ngày không được sửa chữa và xử dụng nên khắp nơi đầy ổ voi ổ gà. Thêm vào đó là nhiều đèo cao với vô số khúc quanh co lên trời, xuóng lủng, do đó đoàn xe di chuyển rất chậm vì phải mở đường và tu bổ quan lộ, nên đêm đó phải đóng quân và cũng là dịp ngàn năm một thuở được chủ làng trong buôn Koho, tai thung lũng Klonodium sát quốc lộ mời ăn Tết.

Lễ hội theo truyền thống được tổ chức giữa sân nhà Hội Ðồng. Tất cả đều là sự quyên góp chung từ củi đốt, trâu bò tới rượu cần. Quang cảnh đêm Tết thật hấp dẫn với đống củi cao như núi đủ rực sáng suốt đêm, mấy trăm hủ rượu cần và ba con trâu cột sẳn quanh các hàng cộc được chạm trổ. Khắp nơi còn có những cây phướng, nêu và cờ xí càng tăng thêm nét đẹp và trang nghiêm trong ngày Tết.

Rồi lúc ráng chiều vừa khuất sau rặng Núi Bà cao đen thăm thẳm đầy huyền bí, cũng là lúc chiêng trống nơi nhà Hội Ðồng trổi dậy, thúc dục dồn dập như tiếng trống trận xua quân, kêu gọi mọi người trong Buôn tề tựu nơi bếp lửa hồng vừa cất cao ngọn. Tiếng lửa lách tách nổ vui tai, cộng với tiếng người chuyện trò huyên náo. Nam nử, già trẻ vui Tết ăn mặc quần áo đẹp và mới nhất của họ, dù chỉ là thứ vải bâu thô thiển. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao,khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và muì hương của núi rừng tây bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả Buôn không còn rượu và thịt.:


“ Ớ chàng trai lính ơi,
đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
đôi ta tình cờ quen nhau ngắn ngũi
nhưng em nguyện chờ chàng trở về ..”


2- VUI TÉT VỚI NGƯỜI THÁI Ở TÙNG NGHĨA :

Sau hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước, một số người Thái sinh sống tại tỉnh Lai Châu đã di cư vào Nam để tìm tự do và lập nghiệp tại xã Tùng Nghĩa, quận Ðức Trọng, tỉnh Tuyên Ðức, gần phi trường Liên Khương, ngả ba Di Linh-Ðà Lạt-Ðơn Dương.

Thời tiền chiến, Hoàng Ly đã viết bộ tiểu thuyết trường thiên dã sử nổi tiếng “ Lửa hận rừng xanh”, hư cấu cuộc đời của Tù trường Ðèo văn Lang, vua của người Thái đen Thái trắng, miền tây bắc Lai Châu rộng lớn , từ Phong Thồ, Nậm Nà tới Mường Lay,Mường Tè,Bản Pháp.. xứ sở của hoa ban, loài hoa trắng mọc chênh vênh ven vách núi, mùa xuân nở trắng núi đồi xứ Thái.


“ Ðón giao thừa một phiên gác đêm
chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên bán súng..
ngở pháo tung bay, ngở tóc em vương..”

Bài hát cũ của nhạc sỹ Nguyễn văn Ðông, mấy chục năm về trước, nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa. Theo phong tục cổ truyền, hầu như tất cả các dân tộc thiểu số vùng thượng, trung Bắc Việt cũng như cao nguyên Trung Phần, hằng năm đều có nhiều lễ hội. Người Thái cũng vậy nhưng quan trọng hơn hết đối với họ vẫn là Tết Nguyên Ðán NEN BƯƠNG TIÊN, thường được tổ chức tiếp theo Lệ ăn cơm mới và uống rượu Kim Lao Mao, mừng trúng mùa, cũng như ngày Tết Thần Táo vào tối đêm 23 tháng chạp, cũng giống như người Việt, rất trọng thể khắp mọi nhà, mọi đình làng với lễ vật gồm gà, xôi, rượu, vàng giấy và hoa quả.

Người Thái sống lâu năm trên đất Việt nên Tết Nguyên Ðán gần giống người Kinh, nhất là từ khi họ di cư vào miền Nam. Ðêm giao thừa, mọi người đều ăn mặc quần áo mới. Sặc sở và diêm dúa nhất vẫn là các cô gái chưa chồng, trong lễ hội “ Tung Cầu “ với thanh niên chưa vợ, để rồi sau đó từng cắp sóng sánh cười vui, qua cuộc tình đầu xuân vừa chớm nở.

“ Chốn biên thuỳ này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người “.,nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân cũ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học “ tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ ngở cùng em sóng bước xuân “.


3 - ÐÊM CHỜ TẾT NGOÀI VÒNG ÐAI ẤP CÂY BÀI (CỦ CHI).

Cuối năm 1964, toàn bộ Trung Ðoàn 43 biệt lập từ Di Linh tăng phái hành quân cho khu 32 chiến thuật, trách nhiệm tỉnh Hậu Nghĩa nhưng chủ yếu là tại quận Củ Chi, khắp các xã Bình Mỹ, Tân Thạnh, Trung An, Phú Hòa Ðông, Phước Vĩnh An,Tân Phú Trung, Tân Thông, Nhuận Ðức,Trung Lập, Phước Hiệp, Thái Mỹ,An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng và huyện lỵ Tân An Hội. Lúc đó, BCH Trung đoàn đóng tại Tân Thông, các tiểu đoàn 2 và 3/43 nằm tiền đồn khắp các xã xôi đậu, chỉ riêng Tiểu đoàn 1/43 được dưởng quân ba ngày Tết tại quận, vì đã lội suốt một năm khắp các chiến trường Bình Thuận, Bình Tuy, Long Khánh, Bình Dương, Bình Long và Hậu Nghĩa.


Ban 5 /TÐ đã soạn thảo nhiều chương trình để lính và gia đình vui một cái Tết đặc biệt tại hậu phương. Ngày ba mươi tháng chạp, TÐ xuất tiền hành quân công thêm tiền thưởng của Tỉnh và Trung Ðoàn, giao cho Ban 4 ra chợ Củ Chi mua sắm gà, vịt, heo, bò, bánh trái và rượu đế Bà Ðiểm làm tiệc tất niên. Lúc đó, đa số lính của Tiểu đoàn là người Trung, nên trong dịp Tết chỉ có một số nhỏ có gia đình tại Sài Gòn và vùng lân cận được phép miệng về thăm gia đình, còn hầu như là ở lại với đơn vị.

Vì khỏi trực gác, nên lính tha hồ rong chơi khắp hàng quán, dù phố lỵ Củ Chi nhỏ xiú và buồn hiu, lưa thưa vài hàng quán và cái lồng chợ cũng bé bỏng khiêm nhượng. Cũng may, quận nằm trên quốc lộ 1, nên có rất nhiều xe đò xuôi ngược Sài Gòn-Trảng Bàng-Tây Ninh.. cũng như ngả rẽ tới Bầu Trai, Hiệp Hòa, Ðức Huệ.. Ðứng bên đường,nhìn trộm những người đẹp ngồi trên xe đang hối hả mua quà vật khi xe ngừng, hồn lính cũng cảm thấy phần nào vơi đi nổi nhớ nhà. Ở đây mùa đông không lạnh lắm so với Phan Thiết nhưng gíó nhiều nên cũng tái tê, se sắt. Bao nhiêu năm lính, lần đầu được vui một cái tết thị thành cũng thấy an ủi phần nào .

Nhưng Tết chưa tới, tiệc cũng còn đang sửa soạn, thì lệnh hành quân khẩn cấp từ Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn ban xuống. Quân báo và an ninh Tiểu đoàn lái xe ruồng bố khắp nơi để gom lính, làm cho người Củ Chi ngạc nhiên tuá ra đường dòm ngó, như thể họ đang xem hát tuồng. Và rồi nửa giờ sau Tiểu đoàn 1/43 lại lên đường, lính chỉ mang theo súng đan và nước uóng với nhiệm vụ giải toả Ấp Cây Bài vừa bị giặc lợi dụng lệnh hưu chiến, từ mật khu Hố Bò tràn vào chiếm Ấp và bắt đồng bào làm con tin đỡ đạn. Quân ra đi như bóng ma đói, ai cũng phờ phạc buồn rầu thấy rõ, đầu gục xuống, súng vác vai, bất kể đội hình kỹ luật, im lặng như hến. Thế là thêm năm nửa, tàn mộng tết-xuân.


Bốn giờ rưởi chiều ba mươi Tết, Tiểu đoàn 1/43 đã có mặt ngoài vòng đai Ấp, trong khi đó toàn bộ Trung Ðoàn đều tham dự cuộc hành quân này và các đơn vị đang dần xiết vòng vây. Súng nổ khắp bốn hướng giữa ta và địch, từ trong Ấp cho tới Làng Paris Tân Qui, Bến Cỏ, Phú Hòa, Ấp Nhà Việt.. chổ nào cũng có đụng lớn. Riêng TÐ 1/43 án ngử ngay con đường tỉnh lộ dẫn vào Ấp, đường đã bị cày xới tan nát.

Ấp nằm trong tầm ngó nhưng mù mịt vì bom đạn lửa khói và rừng cao su ngút ngàn che phủ. Cánh đồng lúa ven làng đang bắt đầu ươm hạt, mùi thơm sữa lúa theo gió thoang thoảng khắp nơi, mũi mòng từng đàn đáp đậu trên da thịt, tha hồ xơi tái lính. Trong cảnh buồn rầu thê thiết, ai cũng thẩn thờ quên đau vì muỗi chích, khi nghĩ tới đồng bào vô tôi đang nằm giữa dao thớt chiến tranh, trong lúc khắp nơi mọi nhà đang rộn ríp náo nức đón xuân về. Thời gian qua thật chậm, chiến trường vẫn sôi sục bom đạn. Còi thúc quân vang dậy dồn dập nhưng lính vẫn không tiến nổi vì các khẩu súng cộng đồng của giặc từ các cao điểm trong Ấp bắn chận dữ dội, khiến cho lính TD lần hồi rụng tã tơi như mấy cánh mai vàng trước gió xuân tơi tả., khi tiệc tất niên chưa kịp hưởng, đã vội về với đất lạnh, đời lính như vậy sao mà không buồn ?.

Không thể làm gì hơn, nên Bộ Chỉ Huy hành quân đã xin Khu chiến thuật nhờ không quân can thiệp. Màn đêm hững hờ buông rèm gói trọn vạn vật, chỉ còn nghe tiếng L19 và Khu trục cơ Skyraider vần vũ dội bom bắn phá mục tiêu. Xa xa về hường Sài Gòn, trời sáng hồng trong đêm tối, giờ này thiên hạ đang vui say chè chén nhảy nhót và hạnh phúc, chắc không ai ngờ tới, tại một thôn xóm hẻo lánh nghèo nàn, có không biết bao nhiêu người, dân cũng như lính, địch lẫn ta đang lặn lội trong bom đan, chỉ mong được phép lạ để sống còn. Suốt đêm trừ tịch, máy bay liên tục dội bom, Ấp Cây Bài đắm chìm trong biển lửa, bên ngoài Tiểu đoàn nằm chờ trời sáng. ai cũng đói lạnh nên nhiều người mặc kệ lăn kềnh trên đất ngáy khò, bất kể cái chết kề cận.

Tờ mờ mồng một Tét quân vào Ấp trong nổi thê lương tận tuyệt, khắp nơi chỉ là cảnh chết từ người tới trâu bò heo chó. Giặc đã chém vè bằng các đường giao thông hào, bỏ lại nhiều tử thi lõa lồ bất động. Chiến tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đèn bánh mứt.. chờ đón xuân về.


4 - CHUYẾN TÀU BA MƯƠI TẾT.

Chiều hăm chín tết năm 1979, trại cải tạo Huy Khiêm của tỉnh Thuận Hải rộn hẳn lên vì ngày mai cho tới mồng hai Tết, đoàn tù khổ sai của VNCH tạm nghĩ lao tác, được đổi khẩu phần Tết với đường, thịt heo, cơm trắng không độn và một bao thuốc có cán. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái danh sách phóng thích tù nhân vào mỗi dịp Tết về, sẽ được cán bộ gọi trong buổi sinh hoạt hôm nay.

Ðúng 1 giờ trưa chiều ba mươi tết năm đó, trại có mười người được nhận giấy phóng thích về nguyên quán trình diện. Quỹ trại không có tiền cho tù nhân mua giấy xe đò xe lửa, nên ai lo mạng nấy bằng cách lội bộ, từ Huy Khiêm tới Ga Suối Kiết xa chừng 30 cây số. Tám giờ tối cả bọn tới nhà ga thì đã lở chuyến tàu chợ, nên đành phải chờ chuyến tàu suốt Bắc-Nam, Nam Bắc vào lúc 11 giờ khuya cuối năm. Trong bọn chỉ có tôi về Phan Thiết, còn lại đều ở rất xa tận Sài Gòn, Nha Trang.. Chia ly rồi sắp chia ly nữa, anh em chỉ đành ngậm ngùi trao gởi, hưa hẹn. Trong khoảnh khắc năm củ sắp tàn, mọi nhà cài then đóng cửa đón mừng năm mới, thì chúng tôi cũng đang chờ phút giây thay đổi của đất trời.

Ga Suối Kiết nằm cheo leo trong rừng lá, cạnh vách núi Ông cao ngất hùng vỹ, bao quanh vài chụp nếp nhà lá lụp xụp của các công nhân hỏa xa và dân làm gổ. Có lẽ hôm nay mọi người đã về quê ăn tết nên xóm nhỏ thật đìu hiu không có một chút sinh khí, chứng tỏ nàng xuân chưa ghé chốn này. Cũng may Suối Kiết là một ga lớn trên tuyén đường xe lửa Nam-Bắc, nên tất cả các chuyến tàu chợ và suốt đều phải ngừng lại, dù khách có hay không.

Về đêm, núi rừng càng buốt cóng lạnh căm. Bộ quần áo trận năm nào dù đã được đắp thêm chục mãnh vá, vẫn không ngăn nổi cái sắt se xa xót, như từ một cõi mộ địa, theo cái lạnh xâm chiếm tâm hồn những bóng ma đang lạc lõng trong đêm xuân, không biết rồi sẽ về đâu, để kiếm chút hơi ấm của tình quê. Trong cái hiu hắt của đêm buồn, cũng đủ để mọi người nhìn rõ hình ảnh của sự cô đơn nơi ga lẽ, từ những thanh sắt han rĩ tróc sơn trước quầy bán vé, cho tới hàng ghế gổ mọt đầy vết bẩn. Tất cả bổng dưng được trùng phùng một cách ngẩu nhiên với những người tù không bản án, những quân, công ,cán cảnh của VNCH bại trận, vùa được phóng thích trong đêm tết quạnh quẽ, buồn rầu. Phải vui lên một chút để mừng năm mới, thay vì mượn rượu phá thành sầu, cả bọn lại chụm đầu vào nhau , rít chung vài bi thuốc lào ăn tết, trong khi bên ngoài gió núi lồng lộng thổi, tạt sương muối vào mặt mũi da thịt, khiến cho cơn lạnh đói càng thêm hành hạ mọi người.

Hình như giao thừa sắp đến trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho ngươi vợ trẻ, bạn bè, đồng đội, đồng bào.. được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể. Hởi ơi giờ này không biết mẹ già em thơ, có còn như những ngày xuân dấu ái trước năm 1975, giao thừa đi lễ chùa, xin xăm hái lộc, nhà có vui xuân đón tết hay gia đình cũng lại như tôi, tại sân ga nơi rừng núi thẳm tăm tối lạnh lẽo này, cô đơn, đói lạnh và nhục nhã trùng trùng.

Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt đưa tôi về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán.

Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa tôi về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ? ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược. Giờ đây cảnh xưa vẫn nguyên vẹn, riêng tôi thì ôm một tầng trời sầu thảm không đáy, lạc lõng trên quê hương hận thù với kiếp sống nào hơn loài cỏ cây.Rồi thì tàu cũng đến, chúng tôi chia tay trong nước mắt, cuói cùng ai nấy hấp tấp lên tàu như kẻ trốn nợ trong đêm trừ tịch, giữa tiếng còi tàu lanh lãnh thét vang, phá tan cảnh tịch mịch của rừng núi âm u, nghe sao quá ảo nảo lạnh lùng.

Chuyến tàu suốt Sài Gòn-Phan Thiết đêm nay ế ẩm, nhiều toa hành khách vắng ngắt lạnh tanh, không như ngày thường chen chân không lọt. Có lẽ mai là mồng một tết nguyên đán, nên ai cũng muốn ở nhà để xum họp với gia đình. Ðất trời buồn mênh mông quá, thêm gió thổi vi vút từ hai bìa rừng thả hơi lạnh khắp nơi, nhưng tôi vẫn muốn ngồi ngoài hành lang để được nhìn lại quang cảnh cũ Trong các toa tàu, đèn đóm tối om, dăm ba hành khách nằm dài trên ghế như đã ngũ tụ lâu rồi. Mặc kệ, tàu vẫn chạy xiết trên đường sắt như con thú điên , với hai ánh đèn pha phá tan màn đêm tăm tối. Hởi ơi cuộc đời sao oan nghiệt quá, trong lúc nhà nhà đang đầm ấm chờ đón chúa xuân, thì tôi trong một tối ba mươi tết, buồn rầu nơi toa xe lửa lạnh lẽo này, yên lặng nép mình trong cô quạnh , để đón một mùa xuân vàng úa nữa, sắp rơi xuống bờ vai của cuộc đời.

Trong giờ phút năm cũ sắp tàn, con tàu cũng hối hả lướt qua từng ga vắng Sông Dinh, Sông Phan,Suối Vận, Mường Man rồi Phú Hội vừa đúng 12 giờ rưởi sáng. Thế là năm mới đã qua và tôi cũng đã lở dịp nghiêng mình chào đón nàng xuân mới trên quê hương mình. Trên tàu ai nấy đều thức dậy, đang chuẩn bị xuống ga Phan Thiết. Tất cả đều xa lạ, hờ hững, buồn rầu, im lặng như bóng tối, không ai chúc nhau một lời ngắn ngủi dù là ngày tết. Bổng đâu đấy nơi một thôn xóm nào đó, dọc theo con đường sắt vang lên mấy tràng pháo chuột, bóng sáng lập lòe như muốn đưổi theo con tàu, khiến cho hồn thêm buồn rầu thương tiếc. Nổi náo nức thầm kín vừa lóe lên, chợt tắt hẳn khi nghĩ đến thực tại não nùng.

Hởi ôi mấy chục năm về trước, tôi, người lính trẻ xa nhà vẫn đam mê chạy đuổi theo những giọt mưa xuân giữa trời lửa loạn. Nay trong buổi xuân về, người lính già lội ngược thời gian tìm vết ngày thơ như còn giấu đâu đó, nơi vòm trời đồng đội, và em, và những tết cuối cùng trong quân ngũ, để ngẩn ngơ bàng hoàng xúc động, như thể vừa bước chân lên con tàu về quê hương, của những tết ấm yên hạnh phúc đầu đời -/-

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
 HỒ ÐINH

Sunday, December 20, 2009

Thời Thế Mới, Phương Sách Đấu Tranh Mới





Lâm Lễ Trinh
        Rồi một năm nữa sắp qua, với những biến cố trọng đại dồn dập. Hoa kỳ, đất tạm dung của trên hai triệu người Việt, vẫn chưa tìm ra lối thoát tại Afghanistan và Irak, mặt khác dang vật lộn vất vả với một cuộc khủng hoảng tồi tệ về kinh tế, tài chính, ô nhiễm và mối đe dọa hạt nhân mở rộng đến Bắc Hàn, Iran và Nam Mỹ. Nhìn về quê hương Việt Nam, càng thêm thảm thương: Đảng CS nát bấy nội bộ, tập đoàn cầm quyền vẫn ngáo ngổ tấn công tôn giáo, đàn áp man rợ đối kháng, hổ trợ tham nhủng, bán rẻ lao công, xuất cảng mải dâm, đả phá khối người Việt nước ngoài và khiếp nhược hàng phục Trung quốc bằng cách hiến dâng quốc thổ, hải phận và tài nguyên. Hơn lúc nào hết, quốc nạn bị Hán hóa trở nên một viễn tượng thực tế.
       Trước bối cảnh ấy, Cộng đồng người Việt hải ngoại nghĩ gì? làm gì?  Dưới đây là một cố gắng phân tách thực trạng. Bài này gồm có hai phần: 1) nhận định tổng quát những ưu, nhược điểm của công cuộc đấu tranh chống Cộng, trong và ngoài xứ, từ 1975 cho đến nay. 2) gợi ý về một số biện pháp để đối phó với nhà cầm quyền Hànội trong những ngày sắp đến.
 Những ưu và nhược điểm trong quá trình đấu tranh cho Dân chủ và Nhân quyền.
1 –TRONG NƯỚC.
Qua ba cuộc chiến chống Tàu, Pháp và Mỹ, kéo dài gần 40 năm và gây tử vong cho trên ba triệu người dân Việt, CS đã thống nhất Việt Nam bằng võ lực. Các văn khố được giải mật gần đây cho thấy những xung đột này không cần thiết, do Hồ Chí Minh và các đồng chí cố tình gây ra để xây dựng độc quyền đảng trị và đưa dất nước vào quỷ đạo của Đệ tam Quốc tế. CSVN đã trắng trợn vi phạm – trước sự im lặng khiếp nhược của Thế giới - Hiệp định Élysée (ký ngày 8.3.1949 giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Quốc trưởng Bảo Đại), và hai Hiệp ước đình chiến Genève (1954) và Paris (1973).
"Độc lập, Tự do và Hạnh phúc", được Hồ đề cao, chỉ là bánh vẽ. Hiện nay, Việt Nam vẫn bị xem như một nước kém mở mang về giáo dục, y tế, môi sinh. nhưng lại đứng hàng đầu về tham nhũng, đồi trụy xã hội và giàu nghèo chênh lệch. Để cứu nguy chế độ, Chính trị bộ áp dụng hối hã năm 1986, theo lệnh của Gorbatchev, kế hoạch "Đổi Mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa" mà Hà Sĩ Phu biếm nhẻ mệnh danh "đứa con lai láu cá", kết quả của một cuộc chấp nối gượng ép giữa Adam Smith và Karl Marx. Đến nay, CS Hànội cũng không hiểu và giải thích được "theo định hướng xã hội" là gì. Đối với người dân, định hướng này không nhằm mục tiêu nào khác hơn là giúp cho các cán bộ đã mập càng mập thêm!
Hiệp thương Việt-Mỹ đánh dấu một một sự nhượng bước mới của CSVN trước ngọn thủy triều toàn cầu hóa dân chủ và kinh tế thị trường. Vừa đưa cổ vào chiếc giây thòng lọng của tư bản các lãnh tụ Hànội vừa hô hoảng "diễn biến hòa bình". Không còn ai ở Việt Nam, ngay cả trong Đảng, tin tưởng chủ thuyết Mác- Lê có thể hồi sinh, dù có gắn thêm cái đuôi "tư tưởng Hồ Chí Minh."
Tuy nhiên, không nên vội tưởng chế độ CSVN sẽ kết thúc đúng theo phương cách đã thấy ở Tây phương. Tại ba xứ Baltic, Hung Gia Lợi, Ba lan, Tiệp khắc, Đông Đức…, CS bị giải thể do quần chúng chán ghét chế độ đương quyền, sự đối lập quyết liệt của các tổ chức công đoàn và thái độ phản tỉnh kịp thời của nhà chức trách mạc xít. Những yếu tố này khó tìm thấy ở Việt Nam, một cựu thuộc địa của Pháp, nơi mà đảng CS đã phát động cách mạng. bằng cách lợi dụng chiêu bài giải phóng dân tộc và khai thác tận cùng mối hận sâu đậm của quần chúng đối với đế quốc thực dân.
 A – Dân trong nước chống Cộng còn rời rạc.
Sau một phần tư thế kỷ sống nghèo đói, thiếu tự do và nhứt là sau vụ chính quyền Hànội thậm thọt nhường đất và dâng biển cho Bắc Kinh, người dân Việt nhận thấy bộ mặt bán nước của Cộng sản. Đảng đang phản bội Tiền nhân và Quân đội Nhân Dân. Các thành phần bất mản, trong và ngoài đảng, bắt đầu lên tiếng, gởi thỉnh nguyện và đơn tố cáo lên Chính phủ, có nơi biểu tình, xung đột với cán bộ an ninh địa phương (vụ Tam Tòa, Thái Hà, Xã Đoài, chùa Bát Nhã; sinh viên, thanh niên xuống đường phản đối năm ngoái về Trường Sa, Hoàng Sa; buổi Hội luận của trí thức về Biển Đông..v..v...)
Đến nay, mức độ đối kháng CS trong nước còn giới hạn, chưa quyết liệt, thiếu tổ chức và không liên tục vì nhiều lý do. Mạng lưới công an cô lập những thành phần chống đối, trong đạo cũng như ngoài đời, nhục mạ họ để làm mất uy tín và kiểm soát dưới mọi hình thức như buộc khai lý lịch, khám xét bất thần, quản chế theo Nghị định 31/CP không đưa ra tòa án, hăm dọa, cắt điện thoại, tịch thu phi pháp các phương tiện truyền thông, đóng cửa các báo chệch hướng,..vv... Lý do khác là đa số dân chúng không được thông tin đầy đủ, kiệt sức sau nhiều năm chinh chiến và phải vô cùng chật vật để sinh nhai. Phần đông giới trẻ lo làm giàu bằng mọi cách. Họ đua tranh hưởng thụ và không mấy thiết tha đến chính trị như một cuộc thăm dò của báo Thanh Niên năm ngoái cho biết. Nhà chức trách cũng không khuyến khích họ tham gia công tác cộng đồng. Trong tác phẩm "Đôi điều suy nghĩ của một công dân", Hà Sĩ Phu chán nãn nhận xét: "Dân tộc phải đương đầu với một cuộc tổng khủng hoảng nhân cách! .Xã hội dang lộn ngược do thang giá trị bị lộn ngược. Chủ nghĩa vô hồn tạo ra một khoảng trống ghê rợn. Về văn hóa, lý tưởng và nhân cách."
 B –Đường lối vừa áp đảo, vừa ru ngủ của nhà cầm quyền Cộng sản.
CS rất thâm độc: mổi khi thấy quần chúng bất mản cao độ thì chúng xoa dịu bằng cách xã bớt ống hơi an toàn, bố thí vài nhân nhượng nhỏ nhoi để tránh cải cách sâu rộng và dứt khoát. Mặt khác, chúng còn tung ra đòn xão quyệt "hòa hợp hòa giải", kêu gọi thống thiết lòng yêu nước thương nòi của "khúc ruột ngàn dặm" và gài những " cò mồi CS thức tỉnh" trong hàng ngủ đối phương để gieo rắc những tư tưởng cầu an, chờ thời. Vụ tổ chức buổi hội thảo “Gặp gở VN, Meet Viet Nam” ngày 15 và 16.1.2009 tại San Francisco và Hội nghị Việt kiều tiêu biểu tại Hà Nội từ 21 đến 24.11.2009 nằm trong kế hoạch bịp bợm thực hiện “một cộng đồng đoàn kết vững mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước”. Âm mưu này thất bại vì chủ trương lộ liểu củng cố một “nội lực bên ngoài, cinquième colonne, để bảo vệ công dân”, theo ngôn từ của Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, chủ tịch Ủy ban Nhà nước về người Việt hải ngoại.
       Kiệt quệ vì 40 năm chinh chiến, dân trong xứ cần hòa bình để yên thân xây dựng lại. Sống như trong một nhà tù, dân không có cơ hội so sánh với thế giới phát triển bên ngoài. Bởi thế, làm sao dân tình không chán nản, dân khí không suy vi và dân trí không lụn bại?
Mau chóng hơn phía Quốc gia, CSVN biết rút từ sự sụp đổ của Nga sô và các chư hầu một số kinh nghiệm thích đáng để xoay trở thoát nguy. Đảng CS ngày nay là một mafia, liên kết để bảo vệ nồi cơm. Không có viễn kiến chính trị và không đặt nổi kế hoạch dài hạn, họ áp dụng nhu cương tùy lúc, để giải quyết từng khó khăn một, chuẩn bị ngày cuốn gói ra đi. Thật vậy, đã từ lâu, họ biết xã hội chủ nghĩa không còn giúp gì được. Triết thuyết Mác Lê - phản khoa học và ảo tưởng - đã giải đáp sai bài toán nhân loại. Mác Lê chỉ dạy cướp quyền, san bằng xã hội, không dạy làm kinh tế và xây dựng hòa bình.
Để tồn tại, nhà cầm quyền Hà Nội cam nhận đóng vai trò thái thú xã thân phục vụ cho mộng bá quyền của  Đại Hán tại Đông Nam Á. Bắc bộ Phủ mở cửa đón hàng hóa Trung quốc tràn ngập vùng biên giới Lào Cay, Cao Bằng và Lạng Sơn; cho Bắc kinh khai thác bauxite tại Cao Nguyên, nơi có một trọng lượng uranium đáng kể;  đón nhận người Hoa  vào VN miễn chiếu khán (visa). Hiện nay, có trên 100.000 công nhân Hán làm việc và sinh sống trong những ốc đảo riêng biệt ở Lâm Đồng, Hải Phòng, Cà Mau, Bắc Kạn, Đak Nông, Nông Sơn, Quảng Nam…là những cứ điểm chiến lược then chốt. Mặt khác, CSVN cũng đã thương lượng giao cho Trung quốc xây hai lò phản ứng hạt nhân trị giá 3 tỹ Mỹ kim tại Phước Dinh (Ninh Thuận) và Hòa Tân (Tuy Hòa, Phú Yên), dự trù hoạt động năm 2015. Nói tóm tắc, Trung quốc đã chiếm thêm của VN trên 7.000 cây số vuôn, nới rộng lãnh hải ra 12 hải lý và cho bao vây VN bốn mặt: ở phía Tây, với hai đồng minh Miên, Lào; ở phiá Đông bằng cách chiếm Hoàng Sa và Trường Sa; ở phía Bắc, đột nhập biên giới, đồng thời phong tỏa Vịnh Bắc Việt.
Thái độ hèn hạ của Hà Nội thúc đẩy Bắc kinh khinh thường và lấn áp thêm. Cuối tháng chín vừa qua, trên 100 ngư phủ Việt thuộc đảo Ly Sơn và Bình Châu ghé vào cảng Cần Cẩu tránh bảo. Họ đã bị lính Tàu cướp bóc, tra tấn, đánh dập tàn nhẩn và công khai đòi tiền chuộc mạng. Quốc hội và Bộ Ngoại giao VN không dám lên tiếng khiếu nại, kiện trước Tòa án quốc tế hay loan báo trên báo chí, truyền hình. Trong con mắt nhà cầm quyền Bắc kinh, đàn em CSVN vẫn là một bọn người vô ơn bạc nghĩa. Họ không quên Lê Duẫn đã sửa Hiến pháp ghi lời lên án Trung quốc, rồi hoàn toàn thần phục Liên Xô và còn gọi xấc xược Đặng Tiểu Bình là Đặng Lưu Manh. Năm 1979, đại ca Lưu Manh xua quân làm cỏ biên giới Bắc Việt. Thái độ coi rẻ đó còn thể hiện trong các hồi ký quân sự mô tả sự yếu kém của quân đội Bắc Việt và vai trò lãnh đạo chiến thuật và diều binh của các tướng Trung cộng Trần Canh, Vi Quốc Thanh…trong cuộc chiến chống Pháp và thôn tính miền Nam VN. Năm 1954, tại Genève, Chu Ân Lai đã bắt tay vớI Molotov ép Hà Nôi chấp nhận chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17 khiến cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng (người ký công hàm năm 1958 hiến Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung quốc), phải bực tức gọi Chu Ân Lai là “đồ chó má”.
Dưới áp lực mạnh của công luận trong và ngoài nước, CSVN miễn cưởng tổ chức cuối tháng 11 vừa qua tại Hà Nội một ‘Hội nghị Quốc tế về Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”. Ngày 23.11.2009, Quốc hội VN thông qua luật thành lập lực lượng phối hợp các đơn vị biên phòng, hải quân và cảnh sát địa phương để “bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền trên biển.” Quyết định này bị nhiều chuyên gia chỉ trích nặng vì các lực lượng vừa kể quá yếu để giữ gìn môt bờ biển dài 3200 cây số trong vùng có dầu hỏa. Để trấn an Bắc Kinh, tướng Lê Quang Bình, chủ tịch Ủy ban Quốc phòng của Quốc hội, tuyên bố “nhiệm vụ của dân quân là bảo vệ ngư dân và chủ quyền lãnh hải chứ không nhằm chống bất cứ ai” (sic). Như vậy, Đảng CSVN đã lăng nhục Quân đội Nhân dân vì Quân đội không còn được tin dùng trong trách vụ hàng đầu là  bảo vệ quốc gia.
2 -NGOÀI NƯỚC
Sự bức tử của Chính phủ Sàigòn năm 1975 đã buộc gần ba triệu người Việt đi tìm tự do tại 80 quốc gia, 60% hiện sinh sống tại Hoa kỳ. Sánh với tổng số dân 80 triệu của VN ngày nay, đây là một tỷ lệ nhỏ, trên 2%. Cộng đồng VN hải ngoại, tuy nhiên, có một tiềm năng kinh tế và trí tuệ thật quan trọng. Là nạn nhân khốn khổ của CS, khối người này dứt khoát với xã hội chủ nghĩa và tự coi mình như một hậu phương tản mác trên năm châu, một "hậu phương không biên giới" sẵn sàng hổ trợ "tiền tuyến" chống cộng trong nước.
      Người Việt hải ngoại tương đối thành công về mặt vật chất, tiếp cận khá mau với nếp sống nơi tị nạn và đã lập ra vô số hội hè văn hóa, tương tế và đoàn thể chính trị, lắm khi nặng về trình diễn. Tiếc thay, trên bình diện phục quốc, từ hơn một phần tư thế kỷ, họ ở trong thế đở hơn là thế đánh, thế thủ nhiều hơn thế công. Họ phản ứng bén nhạy khi bị Hànội và tay sai khiêu khích. Nhưng mổi khi cơn thử thách vượt qua, đâu lại vào đó, thụ động đợi một bảo tố khác. Trong các nhược điểm, cần phải kể tình trạng phân hóa nội bộ, ảnh hưởng của lối sống buông thả của thế giới tự do, việc đột nhập để phá hoại của CS và sự bất lực kết hợp thành một tổ chức có uy tín trong cộng đồng và trên thế giới, có lãnh đạo, kỹ cương và lập trường để hành động.
Người Việt chống Cộng cũng không hồ hởi với Diễn biến Hòa bình vì cho rằng chiến lược này giúp cho CS sống lâu hơn và là hình thức “hòa giải, hòa hợp” sẽ bị CS lợi dụng. Nhưng làm thế nào sớm đảo ngược thế cờ trong khi Thế giới Tự do, với Hoa kỳ đứng đầu, chủ trương cải tiến, phát triển trong hòa bình? Nguyên Tổng thống Nam Hàn Kim Đại Trọng từng tuyên bố: “Chưa có trường hợp nào mà chủ nghĩa Cộng sản bị đánh bại nhờ vào chiến tranh hay bao vây kinh tế”. Kinh nghiệm cho thấy đường lối chống Cộng bằng cách đánh võ mồm đã lổi thời. Để  khai trừ hữu hiệu chủ trương thống trị của CS căn cứ vào Đói, Sợ và Dốt, cần áp dụng triệt để chính sách Khai phóng Dân tộc bằng cách nâng cao mức sống, mở mang trí tuệ của người dân và củng cố các tự do nhân bản, đặt những nền mống cần thiết cho một xã hội công dân. Dân sinh vững, dân trí mới cao, dân khí mới mạnh. Khi được võ trang bằng các tự do tối thiểu, người dân sẽ đòi hỏi quyết liệt hơn và dũng mảnh chọn lựa cấp lãnh đạo xứng đáng của mình. Những số tiền to lớn mà Liên Hiệp Quốc, Hoa kỳ, Nhật, Úc, Pháp..v..v..đang đổ vào Việt Nam để xây dựng có điều kiện hạ tầng cơ sở về kỷ thuật, giáo dục, thông tin…vv.. sẽ giúp giải phóng người dân Việt. CSVN không dễ gì lường gạt và quỵt tiền của các con cá xà, cá mập tư bản. Trong thông điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2005, Đức cố Giáo hoàng John Paul II đã vạch ra con đường của Giáo hội: “Vượt thắng điều ác bằng điều thiện.”  Chủ trương này sáng suốt và cũng là hướng đi của Thế giới Tự do.
        Ngoài các nhược điểm nêu trên của cộng đồng VN, tưởng cũng nên kể một nhược điểm chung cho hai cánh chống cộng, ở trong và ngoài VN. Nhược điểm này là một hội chứng nguy hiểm: "Hội chứng chờ đợi." Tiền tuyến đợïi hậu phương, hậu phương đợi tiền tuyến, trẻ đợi già và già đợi trẻ, dân đợi quân, quân đợi dân phất cờ khởi nghĩa. Một sự mong đợi mỏi mòn! Hội chứng trở thành một bi kịch nếu kèm theo tinh thần vọng ngoại, ngồi đợi một cường quốc đồng minh " bực đèn xanh" mới hành động. Từ vọng ngoại chuyển qua vong bổn, chỉ có một bước.
Kinh nghiệm tại Việt Nam cho thấy: liên minh với một thế lực ngoại bang, dù mạnh đến đâu, rồi cũng sa vào ngõ cụt thê thảm nếu không có nhân dân hậu thuẩn. Tâm trạng thiếu tự tin này bắt nguồn từ sự coi thường sức quật khởi của dân tộc. Dân tộc bất diệt, dân tộc vĩnh cửu trong khi các thể chế và học thuyết chính trị chỉ là những viên đá lót đường cho lịch sử. Nhưng làm thế nào để tạo ra cái thế nhân dân và nắm được dân? Có dân mới tạo nổi thời cơ. Khai thác thời cơ kịp thời và đúng mức mới thắng địch. Đó là chìa khóa của thành công. Các bậc tiền bối trong dĩ vãng đã bao phen chứng minh điều đó.
 Vai trò của Cộng đồng người Việt hải ngoại trong sứ mệnh dân chủ hóa Việt Nam. Thời  thế mới đòi hỏi  phương sách đấu tranh mới.
Những nhược điểm phân tách trên đây có tính cách tạm thời và có thể điều chỉnh nếu được sớm mổ xẻ can đảm, không tự ti. Mặt khác, cần triệt khai các ưu điểm căn bản. Hiện nay, xã hội chủ nghĩa tại bốn nước cộng sản cuối cùng: Việt nam, Bắc Hàn, Trung quốc và Cuba, đang ở trên đà khánh tận. Thế giới đang bị cuốn hút vào cơn lốc Dân chủ và Kinh tế thị trường. Hai khuynh hướng này tất thắng, không thể đảo ngược. Sự giải thể, sớm hay muộn, của chế độ độc đảng tại Việt Nam tùy thuộc chẳng những nơi tốc độ của trận bảo toàn cầu hóa mà còn – và trên hết – nơi khả năng kết hợp mau chóng và đối kháng hữu hiệu của khối người đấu tranh cho dân chủ tại VN, trong và ngoài nước.
Trên bình diện này, cộng đồng Việt hải ngoại có một tiềm lực kinh tế đáng kể. Thống kê năm 2001 cho biết VN cộng sản có một tổng sản lượng quốc dân 14,7 mỹ kim trong khi tổng thu nhập của người Việt nước ngoài đạt đến 15 tỷ mỹ kim và số tiền họ gởi hằng năm về giúp thân nhân lên tới gần 3 tỷ đô la. Điều buồn nên nhắc lại là năm 1975, chính phủ Nguyễn Văn Thiêu van xin Hoa kỳ viện trợ 700 triệu mỹ kim mà thôi dể tiếp tục đơn độc cuộc chiến và đã bị từ chối. Nếu có kế hoạch chỉ đạo chung để xữ dụng thiết thực nguồn tài chính 3 tỷ mỹ kim vừa nói cho công cuộc vận động dân chủ hóa - công khai, bán công khai hay bí mật – trong xứ thì hay biết bao!
Ngoài tài chính, cộng đồng Việt hải ngoại còn có nhiều tiềm năng trí tuệ: một đội ngũ không dưới 300.000 chuyên viên lổi lạc thuộc đủ mọi ngành (văn hóa, khoa học, giáo dục và kỹ thuật). Không có một nước nào tại Á châu - và ngày cả trên thế giới - có một cái vốn chất xám quý giá như thế, đào tạo bởi quốc tế.
Tiếc thay, đến nay, các nguồn tài lực trên đây không được tận dụng như những lực lượng hạt nhân để đẩy mạnh cuộc cách mạng dân chủ hóa dất nước. Lý do là vì thiếu tổ chức. Thiếu tổ chức vì không đoàn kết. Có đoàn kết mới có lãnh đạo, có lập trường, có cán bộ, có kỷ luật để tiến đến hành động có kết quả hầu gây tin tưởng quốc nội và quốc tế.
Hiện trạng của CSVN có thể tóm tắc như sau:
A- Cộng sản đang sống cầm hơi do sự phân hóa của chúng ta. Cái yếu của cánh chống xã hội chủ nghĩa tạo sức mạnh cho Hà Nội. CS đang tư bản hóa, xã hội chủ nghĩa đang hữu sản hóa do ảnh hưởng xoi mòn của khuynh hướng toàn cầu hóa dân chủ và tự do mậu dịch. Để tránh bị giải thể, chúng run rẩy biến thể. Chúng dùng những danh hiệu mỹ lệ "dân chủ tập trung, dân chủ nhất nguyên" để che đậy một chính thể xuống cấp tận cùng. Hơn nửa thế kỷ nay, đảng CS dành độc quyền: độc quyền yêu nước, độc quyền sát hại, độc quyền cai trị và, gần đây, độc quyền phản bội, bán nước. Điều 4 Hiến pháp vẫn còn thì không có dân chủ, tự do, phát triển và đa nguyên. Phải đấu tranh bứng bỏ điều 4 vì điều 4 (chép y nguyên văn điều 6 của Hiến pháp Liên xô) hợp thức hóa đảng trị và cho phép khủng bố vô tội vạ: khủng bố trí thức, quần chúng, đối lập và tôn giáo.
B- Nhưng Đảng CSVN sẽ chết nhỏ giọt sau khi ký bản Hiệp thương với Hoa kỳ. Để tuân hành các điều khoản cam kết, chúng phải từ nay chấp nhận pháp trị, quyền tư hữu, tự do cạnh tranh và những nhân quyền căn bản Đó là những viên thuốc đắng sẽ tiêu hóa nền kinh tế chỉ huy của Hànội. Khi cơ chế kinh tế CS bị vướng mắc vào cái lưới "thiên la địa võng" kinh tài quốc tế thì sức ép của Thế giới tự do có thêm cơ hội và phương tiện thay đổi mọi việc. Tiến trình "diễn biến hòa bình” - thường được mệnh danh strategy of peaceful evolution hay peaceful  change-  có thể kéo dài một hay hai thập niên.
Bằng mọi cách, CSVN chống Diễn biến Hòa bình, DBHB, mà chúng còn gọi nôm na cuộc Chiến Hòa bình. Phe tư bản áp dụng những thủ đoạn phi quân sự, những “cuộc cách mạng màu” để xóa bỏ các chế độ còn theo Xã hội chủ nghĩa. Gần đây, tạp chí Quân đội Nhân dân có đăng một loạt bài nghiên cứu của Trung tướng Nguyễn Tiến Bình và hai đại tá Nguyễn Đức Độ và  Nguyễn Đức Thắng phân tách nguy cơ DBHB và đề ra một số biện pháp đối phó. Đăc biệt, Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, kiêm Bí thơ Trung ương Đảng, có lên tiếng trên tờ Nhân Dân ngày 3.8.2009 cảnh báo về “hiểm họa chuyển biến nội bộ” và kêu gọi đảng viên CS chống khuynh hướng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” và  “các quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền phản động , âm mưu gây bạo loạn, hình thành lực lượng đối lập của các thế lực thù nghịch”.
         Để xoa dịu cái mối lo sốt vó Cộng đảng bị tan rả trong tiến trình dân chủ hóa, để tránh cho Đảng thãm họa bị "xử lăng trì", các chiến thuật gia CS như Võ Đại Lược, Vũ Văn Hiền …… ….có một lúc đã ồn ào tuyên bố rằng vẫn có thể hội nhập mà vẫn xây dựng được một nền kinh tế độc lập và tự chủ, chuyển từ kinh tế công nghiệp qua "kinh tế tri thức" để thực hiện một "xã hội tri thức." Đến nay, chủ đề này chìm dần, không thấy bàn đến nữa. Hiện tượng đầu voi đuôi chuột vừa nói thường thấy ở  VN.
Chúng ta có trách vụ rút ngắn thời gian ra đi của đảng CS vì hai lý do khẫn yếu:
 1. để xóa cái nhục chậm tiến. CS còn cai trị thì đất nước thêm thụt lùi, vô phương cứu chửa, trong khi các xứ Á châu liên tục tiến tới.
2. để tránh cái họa Hán thuộc. Thật vậy, việc dâng đất và lãnh hải cho Tàu để củng cố Đảng là chủ trương từ lâu của Đảng CSVN chớ không phải âm mưu thầm kín của vài cá nhân hay phe nhóm trong Đảng. Điều 3 trong Thông cáo chung Hoa-Việt ngày 1.3.2002 xác nhận không úp mở: "..Hai đảng góp phần không ngừng củng cố và nâng cao sự tin cậy lẫn nhau, hai bên đã đi đến nhất trí trên một số vấn đè." Điều 5 chú thích thêm: "..Hai bên khẳng định quyết tâm tích cực triển khai quá trình phân giới cắm mốc trên thực địa theo đúng kế hoạch". Bị đặt trước sự chọn lựa "Theo Tàu thì mất nước, theo Mỹ thì tan Đảng", rỏ ràng Đảng CSVN đã dứt khoát quyết định: "thà mất Nước, chớ không mất Đảng."
CS Hà Nội đang phạm lỗi lầm u tối nhất trong cuộc đời chính trị của họ. Khi hay mất Ải Nam Quan, Trường Sa và Hoàng Sa, toàn dân uất hận. Đây là cơ hội ngàn vàng cho người Việt hải ngoại ngồi lại với nhau, dẹp bỏ tị hiềm và lập một Ủy ban Vận động để hình thành một Liên minh rộng rải, có lãnh đạo, có lập trường và quyết tâm hành động.
Ba công tác khẩn yếu sau đây nên được đặc biệt chú ý:
 1 - Điều nghiên lại kế hoạch ngoại vận và quốc tế vận. Xử dụng tối đa kỹ thuật thông tin hiện đại (paltalk, websites, bloggers, tweeters…) để quảng bá sâu rộng các tư tưởng dân chủ trong nước hầu thể hiện một khối đối lập có quy củ.. Điều chỉnh tổ chức lobby những chính quyền địa phương, các cơ quan quốc tế và giới truyền thông. Thúc đẩy các phần tử Việt có khả năng ứng cử vào những cơ chế địa phương và Liên bang. Trẻ trung hóa cấp lãnh đạo cộng đồng. Lập nhịp cầu giữa các sinh viên Việt ở trong và ngoài nước để thảo luận về công cuộc canh tân, phát triển đất nước. Vấn đề bảo tồn văn hóa và giáo dục con em chúng ta để tránh nạn mất gốc cũng rất hệ trọng. Khi người tị nạn chính trị chấp nhận mình là kẻ di cư tha phương cầu thực thì ngọn lửa đấu tranh trong lòng cũng đã tắt. Bởi thế, cần giữ vững lý lịch của chúng ta để tiếp tục chiến đấu, chuẩn  bị cho ngày hồi hương.
2- Trả sự thật lại cho lịch sử bằng cách, một mặt, công nhận những lỗi lầm tai hại của chúng ta trong quá khứ để tự sửa sai và mặt khác, xóa bỏ, với bằng chứng nghiêm chỉnh, một số huyền thoại từng nuôi sống CS Việt Nam cho tới nay trong quần chúng: huyền thoại Hồ Chí Minh là một anh hùng dân tộc (trong khi Hồ lại là một tội đồ khát máu nhuộm đỏ VN với chủ thuyết ngoại lai) - huyền thoại Quân đội Nhân dân có công đầu giải thoát và thống nhất đất nược (trong khi họ chỉ đánh giặc mướn cho Nga-Tàu, cho Đệ tam quốc tế) - huyền thoại đảng CSVN khai phóng dân tộc và đấu tranh thắng lợi về chính trị, ngoại giao (trong khi họ thi hành chính sách ngu dân, đưa gian trá lên hàng quốc sách và vi phạm thô bạo các Hiệp ước, coi thường công pháp quốc tế)… .
3- Chuẩn bị ngay bây giờ tiến trình chuyển tiếp qua giai đoạn hậu CS càng khó hơn. Phe chống cộng, nếu không thức tỉnh, sẽ không được đại diện hay sẽ yếu thế trong những cuộc thương thảo sắp đến quyết định tương lai đất nước. Tới nay, cộng đồng Việt hải ngoại vẫn chưa tổ chức nổi những nhóm nghiên cứu (think tanks) có tầm vóc và khả năng để cứu xét nghiêm chỉnh các vấn đề quốc gia trọng đại. Quan niêm về dân chủ và quốc gia vẫn còn nhiều ý kiến đối chọi. Ngay cách thực thi quy tắc dân chủ căn bản giữa anh em chúng ta ở nước ngoài vẫn còn sơ sót đáng tiếc. Không thể chấp nhận ý niệm rằng chỉ cần phỏng theo các mẫu dân chủ tân tiến của ngoại bang là đủ. Dân chủ không phải là một món hàng nhập cảng. Tự do không phải là một món quà tặng không. VN hậu CS xứng đáng có một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên, một nền dân chủ nhân bản thích hợp với nhu cầu và trình độ của dân tộc, với đầy đủ đặc tính VN, một nền dân chủ bởi dân, của dân và vì dân. Dân Việt Nam. Không lai căng, không vay mượn.
Tình trạng xã hội suy đồi trầm trọng, chính sách nhân nhượng quá dộ Trung quốc, chủ trương bưng bít thông tin, đàn áp tôn giáo ....là những căn nguyên của mọi tai họa và hiện gây nhiều bất mản trong giới trí thức, thanh niên và ngay cả nội bộ Đảng. Lãnh đạo CSVN đang sống trong lo sợ, vì thế ráo riết chuẩn bị rất kỷ - từ các ngành, địa phương cho đến trung ương-  Đại hội Đảng XI sẽ họp đầu năm 2011.
*****
 Không có con đường đấu tranh nào dễ dàng, trải đầy gấm hoa. Đấu tranh từ bên ngoài đất nước, xa quê cha đất tổ nghìn dặm lại càng gay go thập bội. Nhưng tất cả chúng ta đều tin chắc ngày mai trời lại sáng, dân chủ và phồn thịnh sẽ nở rộ trên Quê hương rách nát, sau cơn mê sảng triền miên. Đến nay dư luận vẫn thấc mắc vì sao Quân đội Nhân dân lại có thể cam chịu gục mặt thị chứng cho Đảng ta tái diễn trân tráo bi hài kịch Lê Chiêu Thống?
        Điều 4 của Hiến pháp năm 1992  và nội bộ thối nát là tử huyệt của CS. Thật vậy, độc đảng tạo đặc quyền, bất công gây bất mản. Giữa Đảng và Dân, sự chia tay ý thức hệ đã kết thúc bằng một cuộc ly hôn vĩnh viễn. CSVN phản bội dân nên mất dân. Hồ đã nói: “Mất dân là mất tất cả.” Khổng Tử từng xác quyết: “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.” CS  hành động trái ý dân. Ý dân là ý trời. Với chính sách tàn bạo và sai lầm chồng chất, CS lấn dân vào ngõ bí, gây phẩn uất. nổi loạn. Lửa cách mạng sẽ cắt ngắn và hỏa thiêu giấc mơ diển biến hòa bình. Gieo gió thì gặt bảo. Đó là hai quy tắc  thiên nhiên “Vật cùng tắc biến” và “Tương quan nhân quả”.
       Thời cơ đã đến để chấm dứt một chế độ phi nhân, phi pháp và vô thần.  Nếu thất bại lần này thì đó sẽ là đại họa chung cho dân tộc. Và tất cả chúng ta - người dân Việt, trong và ngoài nước, già trẻ, nam nữ, bất phân chính kiến và tín ngưởng - sẽ phải gánh hết trách nhiệm. Trách nhiệm với tiền nhân, với hậu thế.


LS LÂM LỄ TRINH
Thủy Hoa Trang
Giáng Sinh 2009