Monday, January 25, 2010

NHỮNG NGÔI MỘ PHỦ LÁ CỜ VÀNG



NHỮNG NGÔI MỘ PHỦ LÁ CỜ VÀNG
Tôi đã thấy những ngôi mộ phủ lá cờ vàng,
Trong nghĩa trang còn tươi màu đất mới,
Quê hương Việt Nam một thời lửa khói,
Người lính quên mình vì lý tưởng tự do.
Các anh hiên ngang chết dưới màu cờ,
Bỏ lại vợ hiền, đàn con thơ dại,
Những vành khăn tang bàng hoàng chít vội,
Nước mắt nào cho đủ tiễn đưa anh?
Có thể anh là người lính độc thân,
Chưa có người yêu, lên đường nhập ngũ,
Ngày mẹ già nhận tin anh báo tử,
Tuổi đời già thêm vì nỗi đớn đau.
Có thể anh vừa mới có người yêu,
Hẹn cưới nhau khi tàn mùa chinh chiến,
Tiền đồn xa chưa một lần về phép,
Anh đã ra đi mãi mãi không về.
Súng đạn vô tình làm lỡ hẹn thề,
Người yêu anh đã có tình yêu mới,
Khi trên mộ anh chưa tàn hương khói,
Trách làm gì!. Thời con gái qua mau.
Hỡi người tử sĩ dưới nấm mồ sâu,
Tiếc thương anh lá cờ vàng ấp ủ,
Nghĩa trang quân đội những ngày nắng gió,
Vòng hoa tang héo úa chết theo người.
Những ngôi mộ phủ lá cờ vàng. Xa rồi,
Xác thân anh đã tan vào cát bụi,
Nhưng lịch sử vẫn còn ghi nhớ mãi,
Miền Nam Việt Nam cuộc chiến đấu hào hùng.
Nguyễn Thị Thanh Dương
( Jan.19-2010)

Saturday, January 23, 2010

XIN MỘT LẦN ĐƯỢC NHẮC TÊN ANH

 
 
Trương Đức Thủy
 
Thời gian vẫn vô tình trôi qua ,như nước chảy dưới cầu , như vó câu qua cữa sổ .... Và lòng ngươì thì bị cuốn hút vào trong cơn lốc xoáy nghiệt ngã của thời cuộc . Tháng Tư uất hận một lần nữa lại về ......
Đã bao lần tôi muốn viết vài giòng trân trọng ,để tưởng nhớ anh , nhưng tiếc thay tôi biết quá ít về đời tư của anh , dù đã có thời gian anh đối xử và thương mến tôi ,như thằng em nhỏ dại .Sau khi cãi taọ về , tôi đã cố tìm gặp những người có mặt bên anh trong những giây phút cuối , để lấy thêm dữ kiện sống ,nhưng cũng không thỏa mản được, những điều tôi muốn biết . Ngay khi mới đinh cư tại Hoa kỳ, tôi đã tìm tòi qua báo chí , nhất là những thiên hồi ký trong tù của nhiều người , nhưng cũng chỉ thoáng qua tên anh .Tháng Tư năm 1975 , tháng Tư 2004 : 29 năm , một phần ba đời người sống thọ ,Thời gian thật dài .Sợ chờ đợi mãi , có khi trí óc bị bào mòn . và thời gian sẻ đưa tất cả vào quên lảng . Thà thắp lên tia lửa nhỏ ,còn hơn ngôì nguyền ruả bóng đêm .Tôi quyết định, mạo muội viết những kỷ niệm về anh ,goị là thắp nén hương tưởng niệm người anh-hùng , tôi hằng kính yêu ,nhân ngày giổ thứ 27 sắp tới của anh . Tháng 7 năm 1977 .......... Tháng 7 năm 2004.
 
QUEN ANH NHƯ LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH : . Ngươì ta ở đời ,có hai trường hợp . thứ nhất : Mới thoáng gặp nhau là đã có cảm tình , muốn trò chuyện . muốn kết thân, hay trai gái mơí gặp nhau đầu mày ,cuối mắt đã phãi lòng nhau , muốn trao nhau trái tim yêu nóng hổi , sách tướng số, bói toán goị là hạp căn , hạp tuổi , hạp mạng v v ..... Thứ hai : Mới gặp nhau dù chưa từng quen biết , mới thoáng qua là đã muốn doa , muốn đục , muốn đuổi đi cho khuất mắt , sách tướng số gọi là xung khắc , không hạp căn , không hạp mạng , gần nhau là như chó với mèo ... Tôi hân hạnh quen anh nằm trong hai trường hợp trên . Sau chuyến công tác , trở về Đànẵng , buổi chiều hôm đó tôi dẫn cô bé Lệ H...đi ăn ở nhà hàng nổi ,trước khách sạn Bạch đằng , đây là lần đầu tiên tôi đưa cô bé đi ăn ở nhà hàng , thường thường chúng tôi đi ăn kem Diệp hãi Dung , cơm gà Hãi Nam , hay bánh hỏi thịt nướng , chè Ngã Năm ....đi vào chỗ nào cô bé cũng rụt rè , e-lệ ,tôi muốn đưa vào nhà hàng ,để cô bé làm quen với không khí mới lạ .Bước chân vào trong , cô bé đã tỏ ra mất bình tỉnh ,trước không khí nhiểm đầy khói thuốc và sắc aó rằn ri ., tôi trấn tỉnh em và đưa vào một góc cuối , hai đứa đang cúi xuông trên tấm thực đơn , chọn thức ăn ,thì có một bóng người đến đứng trước bàn tôi , tôi ngẩng đầu lên , bắt gặp khuôn mặt đỏ ké . trong bộ quân phục ` rằn ri Biệt động , trên cổ aó một bông mai đen ,tôi tưởng bạn nhìn lầm người ,nên định đứng lên chào , nhưng không , anh chàng đưa mắt nhìn Lệ H.. và gằn giọng nói vơí tôi : Ai cho phép mầy nghinh bọn tao ???Tôi biết mình đang bị kiếm cớ gây sự . Tôi thầm kêu khổ trong bụng , không phãi tôi sợ , tôi là thằng lì có tiếng , ngàn lần tôi không sợ , nhưng làm sao tránh cho cô bé khỏi bị tổn thương .Tôi xin vắn tắt vài giong , xem tôi đã làm gì mà các bạn Biệt Động ngứa mắt . Tôi vưà ra trường trên một năm , xông pha trận mạc vài lần , nhưng nhỏ con , chưa qua khỏi tuổi 21 , nên còn rất thư sinh , nếu cởi bỏ binh phục thay vào aó trắng quần xanh , tôi cũng chỉ là cậu hoc trò trung học . Thế mà dám dẫn đào vào đây rước đèn , Aó quần cũng rằn ri nhưng khác màu cuả Biệt động ,binh chũng chúng tôi có cái thói quen lập dị là không bao giờ mang cấp bậc , nếu có mang cũng rất kín đáo , như muốn không cho ai thấy , gắn ở chuôi dao găm ,sau nắp túi aó .....Rừng nào thì cọp nấy , Thanh phố ĐN là rừng của anh em Liên đoàn I BĐQ .Tôi biết tôi đã làm cho các anh gai con mắt ,và muốn đục tôi dằn mặt . Anh Thiếu uý chưa thấy tôi trả lời ,đã cao giọng ra lệnh : Mầy hảy đến bàn kia xin lổi mấy anh đi , thì tau tha cho ! Tôi biết tình hình quả gay go . thực khách lần lượt ra khỏi nhà hàng . Xin lổi ư ? không bao giờ , vì tôi có lổi gì đâu .vì tự- aí , vì màu aó tôi đang mặc , tôi biết chắc là có đổ máu , đổ máu một cách vô i'ch ,vì trong tuí quần trận tôi luôn luôn có khẩu Breta nhỏ , Lệ H.. tái mét mặt mày .. Tôi bảo nhỏ : Em qua ghế đá ngồi đợi anh .Tôi bỏ tay vào tuí quần, chạm cục thép lạnh , tôi nghĩ nếu anh bạn xáng tôi bạt tai , thì máu sẻ đổ. Trong giây phút quả bong bóng căng sắp nổ ,thì có tiếng tằng hắng nghe rỏ mồn một ở gần quầy , anh chàng Thiếu úy nhìn lên , lẳng lặng về bàn và cả bộ ba keó nhau rời nhà hàng . Lệ H... như chết khiếp , tôi phãi trấn an nàng ,nên chưa để ý xem ai vưà tằng hắng ,mà mấy ông thần gây sự bỏ đi . thì một ngươì cao to ,bước đến trước mặt , tôi nhìn thấy cặp galong Thiếu tá trên cổ aó rằn ri , bảng tên trên túi : VANG . tôi đứng thẳng ngươì chào ,nhưng Thiêú tá vổ vổ vào vai tôi và noí : Em hay ngồi xuống và tự nhiên cùng bạn gái em ăn uống ,. xem như không có gì xẫy ra , Ông hỏi tôi về đơn n vị , tôi trinh bày đơn vị ,cấp bậc và noí : Em vừa về sau chuyến nhảy dài nên chưa cắt tóc , các anh kia thấy gai mắt mà sinh chuyên , xin Thiếu tá tha lổi , Ông dịu dàng : Em không có lổi gì cả ,thôi quên đi mà vui vẻ với bạn gái , chúng tôi chưa ăn gì cả, và thức ăn cũng chưa mang ra . Lệ H... một mực đòi về , tôi đành chìu nàng , tôi đứng lên : Thưa Thiếu tá, cho em đưa bạn gaí về , không ngờ ông sốt sắng lấy xe Jeep đưa chúng tôi về , dù tôi quyết liệt từ chối , sợ làm phiền ông , sau khi trả Lệ H...về nhà nàng , tôi lại đi chơi và tâm sự với ông gần sáng đêm . Đó là Thiếu tá VÕ VÀNG , Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 21 BĐQ , lừng dang trên chiến trường Miền Trung , từ lúc còn mài đủng quần trên ghê Trường TH/PCT/ ĐN , tôi đã nghe danh và ngưởng mộ người anh hùng nầy , không ngờ tình cờ như một định mênh xui khiến ,tôi được quen Ổng và được ổng thương mến như em út ,Ông bắt tôi gọi bằng anh và goi tôi bằng mày ,( tiếng mày từ miệng ông sao mà thân mật quá , không như tiếng mày của anh bạn Thiếu-uý BĐ gọi tôi trong nhà hàng , nghe qua đã lộn máu nóng lên đầu ....) Tôi thưa : Trước mặt lính tráng cuả Thiếu tá ,mà em goị như vậy e bất tiện qúa ! Ổng nghiêm giọng : Có sao đâu , mầy là em tau ,là em tau thì phãi gọi tau bằng ANH ...
 
NHỮNG NĂM THÁNG CÓ ANH TRONG ĐỜI :..Từ đó sau ,những lần về ĐN tôi thường ra căn cứ Liên đoàn 1/BĐQ ở Phú lộc ( trên đường ra Hoà khánh,quẹo tay mặt)để thăm anh ,nhờ đó mà tôi quen gần hết cac bạn trong Tiểu đoàn 21/BĐQ , kể cả anh Thiếu uý T . người đòi đục tôi trong nhà hàng .Thơì gian những năm 66 /67 chiến trường miền Trung vô cùng sôi động , Đồng minh ào ạt đổ quân vào , Tiểu đoàn 21 BĐ của Thiếu ta Võ Vàng đã tạo những chiến công vang dội , báo chi trong và ngoài nước nức lòng ngơị khen , Các cấp chỉ huy Quân Đồng minh nể mặt .Những lần gặp lại anh , tôi
được anh thương mến đặc biệt , thường dặn dò và bày vẽ những kinh nghiệm chiến trường , vì duới mắt anh , tôi chỉ là con dê non ưa húc càn . Anh luôn nói về đời lính , và yêu đời quân ngủ trên hết mọi chuyện ,ở anh chỉ có chiến công và mong sớm có thanh bình cho Quê hương ,Tết Mậu thân ,hai anh em cùng hành quân trên một địa bàn , Nam sông Hương , khi tạm yên tiếng súng , anh goị tôi sớm mai đến Bộ chỉ huy (BCH) cuả anh để uống bia , nhưng đêm đó ,tôi nhận lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm cho đơn vị bạn , để đến vùng hành quân khác ,thất hẹn với anh . Sau Mậu thân , anh được vinh thăng Trung tá và giữ chức vụ Liên đoàn phó LĐI /BĐQ . Sau đó anh được thuyên chuyển về Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà lạt , giữ nhiệm vụ Trưởng ban Quân vụ , đây là thời gian dài ,chúng tôi không gặp nhau , Trương Vỏ bị Đà-lạt là chỗ dung thân tốt nhất ,cho những ai muốn tìm chữ THỌ , nhưng trong những bức thư anh gởi cho tôi , anh luôn luôn than buồn chán và nhớ chiến trường , hơn ai hết , tôi biết con hổ bất đắc dĩ phãi xa nuí rừng thì rất nhớ rừng xanh , núi thẳm ,anh mong được trở lại thời ngang dọc cũ . Và anh được toai nguyện , anh trở ra cầm quân trong chức vụ Trung đòn trưởng ,trung đòan 5 SĐ2/ BB ,tôi cứ đinh ninh với tài thao lược, và kinh nghiệm của anh , đương tiến thân của anh sẻ thanh thang ,rộng mở . Những ngaỳ trước khi Hiệp dịnh Paris được bốn bên ký kết , V.C cố đánh chiếm Sa huỳnh ,để làm cữa khẫu và cắt đứt con đương huyết mạch Nam Bắc của VNCH , đây là đất anh dụng võ , anh muốn đánh trận đánh để đời , nhưng đột nhiên tôi nghe anh bị cất chức Trung Đoàn trưởng , nguời cách chức anh là Ch/T Trần văn Nhựt . Tư lệnh SĐ2 / BB. Tôi xin dành it giòng để điểm qua báo chi về vị tướng nầy : Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của CH/ T Nhựt thì canh bạc xì phé ,ông ăn đậm nhất là khi mặt trận Bình long nổ ra , ổng đã về nhiệm sở kịp thời để xí phần , vì trên cương vị Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Bình Long , ông không góp tí công lao nào cả , mà moị chuyện đã có Ch/Tướng HƯNG Tư lệnh SĐ5/ BB , Đ/Tá Lê quang LƯỞNG LĐ/ Dù . Đ/Tá HUẤN , Liên đoàn 81 Biệt cách / Dù lo trọn gói ..Khi An lộc được quân dân anh hùng tái chiếm , Bà vợ C/Tướng Nhựt đã chạy cửa hậu ,với chi Sáu Thẹo ,kiếm cho cái chức Tư lệnh SĐ2 /BB và một ông sao (,ông này có số núp bóng quần hồng ). Trong trận tái chiếm Sa huỳnh , SĐ2/ BB dưới tài cầm quân của Ch/T Nhựt thì ra sao ??? xin mời qúy vị hảy nghe nhân chứng sống, Tr/ Uy Trần thi VÂN , ngươì trực tiếp dự trận đánh ,với chức vụ Đai đội trương ĐĐ1 , tiểu đoàn 21 BĐQ , kể sau đây trong tập bút ky chiến trường ANH HÙNG BẠT MẠNG của Ông :(Theo lời Th/ tá Quách Thưởng kể, trước khi T/T Nguyễn văn Thiệu đến BCH Trung đoàn 6 xem thành quả tái chiếm Sa huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẻ ,với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu , dĩ nhiên chiến lợi phẫm của LĐI/BĐQcũng được ghi rỏ . Đặc biệt thêm một tấm tương tự treo trên nòng súng phòng không 12 ly 8. Nhưng khi phài đoàn T/T đáp trực thăng xuống ,và các Sĩ quan Mũ nâu ra sân đón rước, thì CH/T TRẦN VĂN NHỰT LIỀN CHO BỘ HẠ NƠI PHÒNG TRIỂN LÃM ĐA'NH THÁO HẾT CÁC TẤM BẢNG GHI CHIÊ"N LỢI PHẪM, NGHĨA LÀ MỘT DÃY 300CÂY SÚNG ĐỦ LOẠI DO BĐQ TRịCH THU, BỖNG TRỞ THÀNH CHIẾN LỢI PHẪM CỦA SĐ2/ BB . Ông còn trắng trợn, bỉ ổi không thể tả được là độc nhất có cây phòng không 12ly 8 của Đ/Đ tôi cũng bị đánh tráo luôn , không chút ngượng taỵ Rỏ ràng hành đông của Ch/T NhỰt như anh hàng thịt ,treo đầu heo bán thịt chó .Tội nghiệp đám tướng sĩ tượng ,cả xe pháo mã đứng xem chỉ biết tâm tắc khen tài , chứ đâu có ngờ ông bình vôi , nữa người nữa ngợm ,vừa làm trò aỏ thuật cướp công xương máu BĐQ .....) ( Xin ngưng trích ). Tháng Tư năm 75 . Ch/T Nhựt ( hay là GIỰT chạy ) kéo được ít quân tháo chạy về Tuy Hoà , được Tr/T Vĩnh Nghi ,Tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3 ,giao cho làm phụ tá hành quân ,tái phối trí lực lượng , gìữa lúc dầu sôi lữa đỏ , CH/T Nhựt lên trực thăng xin đi thị sát mặt trận , nhưng vù thẳng ra Hạm đội , đào ngủ .Theo kỹ luật Quân đội : khi đối diện với đich mà đào ngũ thì ra toà án binh , bị tước đoạt binh quyền và có thể bị Tử hình , Nhưng khi qua đến Mỹ Ch/T Nhựt đã không bị lột long ,mà còn tự phong là Thiếu tướng , ba hoa chích choè , khi bị báo chí vạch lưng ,thì đánh lận con đen ,xưng là Tướng ( General )để người ta có thể tưởng là Major General , hay LT General hay hơn nữa , mà thực chật là phường biển lận , tên hèn nhát , kẻ vô liêm sĩ .bất taì . Đất nước chúng ta ,để cho những tên như vậy, giữ trọng trách trấn nhậm , những vùng hiểm yếu , mà mãi đến 75 mới rơi vào tay CS , âu cũng là một phép lạ , hy vọng sữ sách ,sẻ dành cho những tên tướng Quảng -lạc nầy vài chương ,để hậu thế tránh vết xe cũ . Hiệp định Paris được ký kết , trong đó ,có kèm theo 2 Nghị định Thư , tổ chức hai cơ quan thi hành , đó là ICCS ( international commission control , surpervision) goi là Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế , gồm hai nước CS la Ba lan và Hungary , hai nước tự do là Indonesia và Canada , nhưng sau Canada thấy không đi đến đâu ,nên rút lui và Iran vaò thay thê' ( Thời gian nầy Iran còn có Vua Penlavi , thân Mỹ ) và cơ quan kia là :Ban liên hợp quân sự bốn bên và sau còn lại hai bên ( VNCH Và thằng giải phong đội lốt ) Trung tá VÕ VÀNG bị đưa về Phú bài ,giử chức vụ trưởng toán BLH/ QS/ VNCH Phú bài ,một chức vụ ngồi chơi xơi nước vối ,anh như con cọp bị chặt hết nanh vuốt , buồn rầu , chán nản ,tôi đến thăm anh , tìm cách an uỉ anh ,cũng như tìm hiểu nguyên nhân tại sao ,cờ đến tay anh đang phất ,mà bị ngươì ta giựt mất , anh chỉ buồn rầu nói : Chỉ vì anh biết qúa nhiều ,ngươì ta sợ anh nổi lên thì ngươì ta sẻ mờ đi , nó nhiều tham vọng, nhưng tài hèn và nhiều thủ đoạn ....Tôi sợ anh buồn chán , nên đem đến cho anh đủ dụng cụ thể dục và khuyên anh tập đều đặn ,để giữ sức khoẻ , ngươì ta sẻ cần đến anh . Trong thời gian ở Phú bài ,công việc của anh có phần nghi lể , nghĩa là đón tiếp các phài đoàn từ Sài gòn ra ,tại sân bay Phú bài . Một hôm anh ra đón một Đại tá người Hunggary , Tr/Ta Võ Vàng trong cái bắt tay xả giao,đã bóp nát tay tên Đ/Tá CS ,tên Đại tá nầy sau đó làm lớn chuyện . gởi văn thư phản kháng đến Trung ương . Anh rất căm thù CS ,dù dưới màu da nào . Hiệp định Paris chưa ráo mực , CS đã vi phạm khắp nơi , Tướng Ngô quang Trưởng sáng suốt , thấy được viên dõng sĩ đang ngồi chơi xơi nước vối , nên vội gọi vào trình diện và giao cho Liên đội ĐPQ / Quảng Nam , hình thức tổ chức của Liên đội ĐPQ, cấp số cũng tương đương với lữ-đoàn hay Trung đoàn .Khi đi nhận nhiệm vụ , anh có hỏi tôi : Muốn làm việc cạnh anh không ? . Tôi biết anh thương tôi , muốn nâng đỡ tôi tôi qúa quyến luyến màu aó đang mặc ,nên xin cho thời gian nữa , Nhưng không có thời gian nào cho chúng tôi nữa cã .Tháng 3/75 ĐN tan tác , ĐN uất nghẹn đau thương , tan đàn rẻ nghé ......Ngày 5 tháng Tư năm 1975 , một buổi sáng tôi ra giếng nước trong Quân Điện Bàn / QN ( nơi đám tù tàn binh tập trung )để lấy nước , bất ngờ gặp anh ,tôi như chết lặng , tay trái anh được treo lên : Anh cho biết ngaỳ 29 /3 mới về đến ĐN, đang đi trên đương Thống nhất, gần Câu vòng , thì bi một chiếc xe dân sự tông anh , may mà anh văng lên lề , chỉ bị thương .Tôi thật sự lo lắng cho anh ,vì anh nổi tiêng quá , ngay đây , nơi tập trung tù binh , cũng không có ai dám gần anh để giúp anh trong khi đang bị thương , Tôi chỉ nói với anh , ngay bây giờ anh phãi tìm cách thoát , lợi dụng lúc nầy để thoát , nguy hiểm quá . Tuần lể sau ,tôi bị đưa đi chổ khác với thầy Hoàng thế Diệm , không còn qua lại thăm anh .
 
NGƯỜI ANH HÙNG BỊ THỦ TIÊU :Sau thời gian tập trung tại Quận đường Điện bàn / QN , tất cả tù tàn binh ,trình diện hay bị bắt tại ĐN, được đưa lên Trại Kỳ Sơn . Trại Cãi tạo Kỳ Sơn , gồm 1 tổng trại và 4 phân trại , Sĩ quan cấp tá ở traị I , gần mỏ vàng Bông Miêu , trại 2 , nằm sâu về hướng Tây , dành cho Sĩ quan cấp Đại uý , trại 3 và 4 dành cho cấp trung uý trở xuống ,gần trại 1 và Tổng trại . Anh Võ Vàng nằm trong trại 1 .Sau thời gian đầu lo xây dựng doanh trại , phát rẩy canh tác .. ổn định nơi ăn chốn ở . Tháng 5 năm 77 , đợt hoc tập chính trị được mở ra trên quy mô rộng lớn .Tất cả đều nghĩ lao động và tham dự 100% .. Những buổi học, tất cả tập trung tại hôi trường để nghe cán bộ chinh trị lên lớp ,và sau đó về tổ thảo luận. những bài :Đế quốc Mỹ tên sen đầm quốc tế , kẽ thù số I cuả nhân dân ta và loaì ngươì tiến bộ trên traí đất . Hệ thông Xã hôị chũ nghĩa ...... Nhưng hóc búa và điên đầu nhất là bài Nguỵ quân và nguỵ quyền , Tập đoàn tay sai bán nước .Sau khi ngồi nghe chưởi ruả trên hội trường , trở về tổ phãi liên hệ bản thân , tự giác khai ra những viếc đã làm trong thời gian phục vụ trong quân đội VNCH .Đây là bản án ,tự mình viết cho mình , ai cũng phãi tìm cho mình một cái tội , Sau đợt hoc tập chính trị ,có ngươì như bị kiệt sức vì bị những đòn tra tấn cân não . Nhiêù lúc giữa đêm khuya bị goi lên khung ( Bộ chi huy) làm việc , cứ tra đi hỏi laị nhũng họat động đã qua . Tr/ Ta Võ Vàng là mục tiêu chính ,bọn cai tù nhắm đến , luôn luôn chúng đặt câu hỏi : Trong quá trình chỉ huy BĐQ . Trung đoàn trưởng , Liên đội trưởng , anh đã giết bao nhiêu Cán bộ CS và dân lành , mấy ngày đầu anh trả lời : Trên cương vị chỉ huy , tôi chưa bao giờ trực tiếp bắn , còn lính dưới quyền ,lúc xung trận ,ai bắn chậm thì chết , tôi không biết . Bọn chúng đâu có chịu ,Bọn chúng quây anh từ sáng ,tới tối , ngày nọ sang ngaỳ kia , nhưng anh vẫn kiên gan giữ lơì khai , đến lúc đó , bọn chúng mới đem những tờ báo cũ , có ghi kết quả các trận đánh ra , và tổng kết tổn thất địch ( VC) ,trong khoảng thơì gian anh Vàng chỉ huy , không dưới 20 ngàn VC phơi thây .Bản án Tử hình cho anh đã manh nha thành hình . Trong số các vệ binh coi tù . có nhiêù tên mới theo VC sau 30 thang 3/ 75 ,gồm nhiêù thành phần , có tên rất khát máu , thù hận ,vì có thân nhân , bà con chết trong cuộc chiến , nhưng cũng có tên nguyên trước 30 thang 3 là hoc trò của vợ tù , nên cũng dễ dãi và dễ bị mua chuộc để lấy tin tức . Sau đợt học tập chính tri ,quy mô kéo daì trên một tháng , tất cả tù được lệnh đi lao động trở lại . Một đêm đầu tháng 7 năm 1977 . Bộ chi huy trại 1 có cuộc họp chi bộ đãng , bản án tử hình danh cho Tr/Tá VÕ VÀNG đã được tổng trai Kỳ Sơn ký từ trước , buổi họp nầy, có mục đích tìm ngươì tình nguyện thi hành bản án .. Tên Nguyễn Bốn , tên vê- binh loắt choắt , nhỏ con nhưng khét tiếng ác độc và khát máu đối vời tù , đứng lên tình nguyên thi hành .(tên Bốn nầy có cha hoạt đông nằm vùng cho VC bi nghĩa quân giết) . Buổi trưa hè , tháng 7 năm 1977 , tổ của Tr/tá Võ VÀNG có nhiệm vụ tiả bắp trong rẩy ,cạnh sông Vàng , ( nói là sông , nhưng thật sự là giòng suôí nhỏ ,chảy qua các ghềng đá bị xoi mòn rất đẹp )trong khu vực Mỏ Vàng Bông miêu, trời đứng bóng , nắng chang chang , tất cả tổ nghĩ lao động kéo nhau vào bóng mát ,lấy vắt cơm sắn và chút nước mắm cáí ra ăn ,thì tên Nguyễn Bốn xuất hiên với AK trên tay , ra lệnh : Anh Vàng theo tôi lên đồi nhổ sắn ( củ mì ) về bồi dưởng cho cả tổ . Linh tính báo cho biết ,việc chẵng lành , anh em trong tổ nhao nhao lên : Xin anh cho tôi đi nhổ sắn thay , vì anh Vàng mấy hôm nay bi kiết lị, yếu lắm . Nhưng tên Bốn vẫn khăng khăng bắt anh Vàng đúng lên đi lên đồi . Khoảng từ 7 đến 10 phút sau thì một loạt AK nổ , lát sau tên Bốn trở xuống noí : Các anh lên đem xác tên Vàng xuống chôn cất , nó Giựt súng tôi , nên tôi đã xử lý . Bọn khốn nạn , lủ hèn nhát đã giết anh một cách hèn hạ, tại sao chúng lại dựng nên tấn tuồng giết người tay không ,một cách hen hạ như vậy ??? vì bản chất chúng là bọn ngươì hèn hạ,bọn đê tiện , làm việc gì cũng không quang minh, chính đại , hành động của lủ đầu trộm , đuôi cướp .....Anh đã tức tưởi nằm xuống bên giòng sông Vàng , trong khu Mỏ Vàng Bông miêu , như là một định mệnh .....
Anh VÕ VÀNG kính yêu , đã 29 năm , ngày Tổ quốc bị bức tữ , 27 năm ,ngày anh bị chúng hành hình , một cách hèn nhát .Thời gian đủ để mọi ngươì mở mắt,nhìn thấy rỏ Thiên đường CS , thời gian đủ dài để xác thân anh trở về với cát bụi , và em tin tưởng linh hồn anh đang oai nghi , thanh thản ở cỏi vĩnh -hằng. Xin hảy cho em một lần được nhắc đến tên Anh , Anh VÕ VÀNG ,với lòng kính phục và thương tiếc sâu xa , một ngươì anh , một chiến sĩ QLVNCH kiệt -suất , hy sinh hết tuổi thanh xuân và cống hiến thân xác cho đại cuộc : Bão vệ tự do cho Tổ quốc . Xin anh cho em được đốt nén hương tưởng niệm anh ,nhân ngày giổ thứ 27 của anh . Xin anh cho em một lần nữa nhỏ nước mắt khóc thương Anh .

Monday, January 18, 2010

NHỮNG MẦU ÁO HOA RỪNG




Mặt Trời đã lặn từ lâu rồi mà cái oi bức của mùa Hè như vẫn còn trong không khí và tỏa ra từ dưới lòng đất và từ những đám cỏ dại hắt lên làm anh cảm thấy như người mình hâm hấp sốt. Thỉnh thoảng có một cơn gió nhẹ thổi qua cũng chỉ đem lại cái hơi nóng của một vùng gần đó hoán đổi cho nhau mà thôi. Anh đứng đó đã lâu rồi trên con đê vắng bóng người, gầy gò và cô đơn lên nền trời còn hừng sáng chiếc áo rằn ri và chiếc quần tù mầu xanh. Anh phải đứng gác ở đây cho máy điện chạy cho đến đêm thì mới được vào trại sau phiên trực. Anh là một trong ba anh em đều cấp bực Trung Tá được điều về tổ điện của trại, để thay phiên nhau trực đêm cái maý điện trong căn chòi lá cạnh một nhánh nhỏ thuộc sông Hồng. Anh đứng xa ra ngoài này cho được thoáng một chút vì cái máy thi cũ kỹ và kêu đinh tai nhức óc.
Tiếng kẻng thu quân đã lâu, và những đội tù nhân lần lượt sắp hàng điểm số để vào trại giam sau một ngày lao động. Rồi tiếng kẻng báo hiệu đóng cửa những buồng giam vang lên theo gió đưa đi thật xa và những đội tù nhân lại sắp hàng điểm danh trước khi vào buồng giam. Sân trại giờ đây vắng ngắt và cả con đường chạy vòng quanh khu trai giam ban nãy còn tấp nập những áo vàng cán bộ công an canh tù lớp đi bộ, lớp chạy xe đạp về khu bếp của trại hay về khu gia bình để lo bữa cơm chiều thì bây giờ cũng vắng tanh.
Anh đứng trên con đê và vừa nhìn nó chạy thẳng tắp tới mút tầm mắt và mất hút sau lũy tre xanh của một ngôi làng nhỏ ven bên kia con sông. Từ xa anh thấy một bà lão tay chống gậy chậm chạp bước về phía anh có lẽ để thăm con cháu trong ngôi làng bên kia sông. Anh nhìn về phía trại giam và thầm nghĩ giờ này chắc các bạn mình đã "thanh toán" xong cái bánh bột hấp là khẩu phần cho bữa ăn chiều và đang "chiến đấu" chống lại cái nóng đến nung người của mùa Hè xứ Bắc, mồ hôi thì cứ nhỏ từng giọt một xuống cho đến khi mệt lả người và thiếp đi trong từng giấc ngủ. Chợt anh thoáng giật mình vì bà cụ đã đến bên cạnh anh từ lúc nào và nhìn vào chiếc áo Biệt Động Quân anh đang mặc trên người rồi hỏi giọng đầy dịu dàng:
-"Chắc anh là tù chính trị ở trong trại kia phải không?"
-"Đã thưa cụ đúng vậy ạ!"
-"Anh trước kia cấp bậc gì?"
-"Thưa cụ cháu cấp Tá"
-"Đẹp mặt nhỉ! chúng tôi cứ tưởng các anh ra đây như thế nào chứ ai ngờ ra nông nỗi này."
Anh nhìn chung quanh, bóng chiều đã xuống sẫm từ lúc nào và chỉ còn anh và bà cụ trên con đê vắng bóng người. Đã năm năm tập trung, lưu đầy qua bao nhiêu là trại giam và khổ ải nhưng lần đầu tiên anh thấy choáng váng như bị đánh trúng vào tim và không hiểu sao đột nhiên anh quì xuống, hai giọt nước mắt từ lâu tưởng đã khô cằn từ từ lăn xuống đôi gò má sạm nắng:
-"Thưa cụ, cháu xin chịu tội trước cụ, cháu đã bất tài không giữ được nước." Và cứ thế những giọt nước mắt cứ tuôn ra không thể cầm được nữa như những uất nghẹn từ lâu dồn nén bây giờ bất chợt được khai thông..
-"Thôi! Già nói vậy thôi anh đứng lên đi, âu cũng là số Trời. Đây, già chẳng có gì ngoài mấy cái bánh và nải chuối này thôi, anh cầm lấy vào trại mà ăn với bạn bè."
-"Thưa cụ, cháu rất cảm ơn lòng hảo tâm của cụ, đây là những thứ hiếm quí giá mà chúng cháu không bao giờ dám mơ ước tới trong trại giam nhưng xin phép cụ cháu không thể nhận được."
Anh vội bỏ nải chuối và mấy cái bánh vào trong tay nải cho cụ và đỡ bà lão bước lên con đê và nhìn theo bóng bà cụ mất hút sau lũy tre xanh của ngôi làng.
Tối hôm đó vào trại, bên cạnh ly nước trà, anh kể lại cho các bạn bè thân nghe và thấy bạn mình ai mắt cũng đỏ hoe.

Chợt anh nhớ tới hai năm trước khi anh ở trong một trại giam tại Hoàng Liên Sơn, mỗi ngày vào rừng đốn cây để xây dựng trại, có khi phải vào rất sâu trong rừng mới tìm được những thân cây đúng kích thước. Một hôm, anh và một anh bạn bị lạc đường và không tìm được lối ra thì may sao lại gặp một dân địa phương đưa về nhà và cho ăn một bữa khoai sắn no nê là một bữa tiệc thịnh soạn trong đời mà anh không bao giờ quên được. Anh rất ngạc nhiên nghe họ nói giọng người Hà Nội rất là thanh tao, hỏi ra mới biết năm 1954 khi Cộng Sản vào miền Bắc thì người Hà Nội cũ bị đuổi ra khỏi thành phố về vùng kinh tế mới trong rừng sâu, và nhà nước tịch thu hết nhà cửa và tài sản của họ. Bà chủ nhà khi biết anh và người bạn là sỹ quan chế độ cũ Sàigòn thì niềm nở hẳn ra rồi chỉ vào ngôi nhà lá đơn sơ của mình và chỉ lên bàn thờ:
-"Hai anh biết không? Ông nhà tôi sau tháng 4 năm 1975 vẫn nhất định không tin là mất miền Nam và cho rằng đó là thủ đoạn tuyên truyền của Cộng Sản mà thôi cho nên năm sau tìm mọi cách để vào miền Nam xem tận mắt sự thực ra sao. Khi trở lại ngôi nhà này, ước mơ một ngày đẹp trời nào đó mình sẽ rời bỏ vùng núi rừng này để có thể trở về căn nhà thân yêu tại phố hàng Buồm năm xưa tan ra mây khói. Ông nhà tôi buồn bực quá và phát bệnh rồi mất đi năm ngoái."
Năm 1976, hàng trăm ngàn tù nhân chính trị chế độ cũ là những quân dân cán chính đã được đưa ra miền Bắc bằng mọi phương tiện, xe tải, xe lửa, tầu Sông Hương, và cả máy bay vận tải C-130. Sau vài năm, họ được cấp phát ngoài quần áo tù, là những bộ trellis rằn ri của những binh chủng Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC, v.v. còn tồn động trong kho. Một phần dụng ý của kẻ chiến thắng là tiết kiệm vải vóc, một phần là muốn hạ nhục cho mặc quân phục mà trong trại giam.

Mục đích của chúng là đầy ải những màu áo hoa rừng đó nhưng có điều không một ai ngờ đến là kể từ đó những màu áo rằn ri này xuất hiện khắp nơi trong trại giam, khu gia binh, các vùng núi rừng chung quanh trại và người dân bắt đầu phân biệt được những tù chính trị và tù hình sự. Màu áo đó đi tới đâu cũng dần dần chiếm được cảm tình không những của người dân địa phương quanh vùng mà ngay trong khu gia binh của họ nữa. Dân chúng miền xuôi hay mạn ngược ngay cả đồng bào Tày, Nùng, Thái từ đó thường gọi những anh em tù chính trị là những "Người Tù Áo Hoa" để chỉ màu áo hoa rừng ngụy trang mà họ đang mặc. Có dịp tiếp xúc, thì họ rất là ngạc nhiên vì những người tù áo hoa này rất là hòa nhã và không có vẻ gì là ăn gan uống mật như Cộng Sản tuyên truyền và nảy sinh lòng cảm mến.
Vào khoảng cuối năm 1977 thi vùng núi Hoàng Liên Sơn và một số đồng bằng lưu vực sông Hồng bị ngập lụt trong giông bão và lũ lụt. Nước tràn vào ngập cả trại giam, cuốn trôi đi nhà cửa, gia súc, hoa màu của đồng bào, nương rẫy trắng xóa.
Nhiều gia đình người Tày và Thái mất sách tài sản nhỏ bé của họ và chỉ còn độc một bộ quần áo trên người. Cán bộ địa phương thì cũng chỉ "động viên" tinh thần đồng bào chứ không có được phẩm vật thuốc men gì để cứu trợ thời .
Vì thế, mỗi khi đi lao động ngang qua khu vực của đồng bào, anh em đều bảo nhau cố gắng gom góp từ cái áo cái quần, đôi dép, cái lon Guigoz đựng nước, cái nón lá, v.v. và thừa lúc cán binh không để ý thì quăng vào trong bụi cây ra dấu cho họ đến lấy.
Những đồng bào thiểu số này sau đó đều rất cảm động vì những nghĩa cử này của anh em tù nhân chính trị và sau đợt thiên tai đó, họ đã trả ơn lại bằng cách đem cho anh em tù nhân con gà, nắm xôi, v.v. nhưng anh em đều bảo nhau không nhận.

Có những lần đi ngang qua bản làng thì thấy dân làng đứng từ xa ôm con và cúi người xá anh em tù nhân như xá những vị thần đã cứu giúp họ trong cơn bĩ cực.
Thế rồi, đầu năm 1979, để trả đũa lại việc Bắc Việt cho quân sang đánh Campuchia, Trung Cộng đã xua quân đánh sáu tỉnh miền Bắc. Sợ các tù nhân trốn thoát cho nên các trại do bộ đội quản lý đều được lệnh chuyển về miền đồng bằng và giao cho công an và màu áo hoa rừng lại thêm tung bay khắp nơi. Nhiều câu chuyện tình đã nảy nở từ những có thôn nữ với các anh chàng hào hoa mặc áo trellis. nhiều dân làng xin vào trại thăm nuôi các anh nhưng bị từ chối vì tù nhân không được phép tiếp xúc với dân chúng.

Báo hại, nhiều anh bị kêu lên kiểm điểm và bị kỷ luật.
Mụ vợ của tay Thiếu Tá trưởng trại giam thì bất kể nội quy tìm cách buôn bán với những tù nhân trong trại để kiếm lời. Có nhiều lần thì mang hàng qua cửa trại trót lọt nhưng cũng có lần thì bị bắt và tịch thu. Anh em mới nói với Mụ và Mụ liền tìm cách liên lạc với trực trại để lấy lại món hàng. Khi gặp anh em tù nhân mụ nói một câu tỉnh bơ:"Các anh là Tù Quốc Tế, việc gì mà phải sợ chúng nó cứ mua hàng vào mà ăn, còn ông ấy í à, nếu tôi không mua bán móc ngoặc thi lấy đâu ra rượu Mai Quế Lộ với thịt thà mà ăn nhậu?". Thằng cháu nội của tay trại trưởng mới lên 7 tuổi thì rất là thích các chú tù nhân vì kể chuyện hay lắm và mơ ước khi lớn lên thì làm tù chính trị vì mặc áo hoa trông oai lắm, và mỗi lần thăm nuôi có nhiều quà lắm từ miền Nam đem ra. Bởi thế, mỗi lần lát sân xi măng hay sửa sang nhà cửa cho tên trưởng trại thì thằng cháu nội này khuôn ra hết nào rượu Mai Quế Lộ, thuốc lào ba số 8, trà ngon ra cho các chú uống và hút thoải mái.
Sau này, có vài cán bộ khi đi về quê ăn Tết hay về phép, lại vào trại xin bộ đồ rằn ri về làm quà cho gia đình vì mặc vào lao động rất là bền và đẹp nữa.


Phạm Gia Đại CVA65

Friday, January 15, 2010

HẢI QUÂN THIẾU TÁ LÊ ANH TUẤN và Căn Cứ Tuyên Nhơn



Kể từ giữa năm 1974, người lính Mỹ đã là một hìh ảnh xa mờ trên chiến trường Việt Nam. Riêng Hải Quân Việt Nam (HQVN), như hoàn cảnh chung của quân đội, sự thiếu hụt về tiếp liệu, cơ phận thay thế là lẽ đưạng nhiên, nhưng bờ biển Việt Nam vẫn được các chiến hạm, chiến đĩnh ngày đêm đan kín. Việc tiếp tế của Hà Nội cho Cộng Sản miền Nam chỉ còn trông vào đường bộ trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh. Con đường huyết mạch của cộng sản chạy dọc theo mé Tây của dãy Trường Sơn, nằm trên đất Lào, vào sâu tận biên giới Miên-Việt. Từ đó, từ Mỏ Vẹt, và dọc theo biên giới Việt Miên, nhất là xuôi theo 2 con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây thâm nhập qua các sông lạch chằng chịt vào đồng bằng Cửu Long.


Hai con sông Vàm Cỏ chạy xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, ở ngay phía Tây Nam Saigon. Một giải đất trù phú trong vòng tay 2 con sông ấy là các điểm chiến lược có ảnh hưởng đến sự an nguy của Saigon: Quốc Lộ 4, cầu Bến Lức, cầu Long An, nhất là các con kinh song-song nhau theo hướng Đông-Tây, là mạch máu nối liền với sông Tiền, sông Hậu. Một con kinh đã đi vào lịch sử của cuộc chiến Việt Nam, ít nhất là ở giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến: kinh Đồng Tiến. Kinh Đồng Tiến, bít đầu từ ngã ba chợ Tuyên Nhơn, ở hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây. Trước đây, Quận Tuyên Nhơn đóng tại ngã ba này. Sau với áp lực quá mạnh của Việt Cộng, Quận Tuyên Nhơn, Chi Khu Tuyên Nhơn và cả đơn vị Pháo Binh 105 ly cùng di chuyển vào nằm sát bên cạnh Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn.


Căn cứ Hải Quân Tuyên Nhơn, nằm ở bờ Nam kinh Đồng Tiến, cách ngã ba chợ Tuyên Nhơn độ 3 cây số. Trước mặt là bờ kinh, làm bãi ủi cho các chiến đĩnh. Mặt kinh rộng độ 100 thước. Bên kia bờ là một bức tường đất cao, trên đó một hàng rào sát, kết lại bằng các mặt lưới chống đạn B-40. Ngoài hàng rào là la-liệt những ổ mìn do Đội Tác Chiến Điện Tử thiết trí. Ở từ hàng rào này chạy suốt về hướng Bắc là một rừng cây đước âm u, nơi xuất phát của các cánh quân Cộng Sản từ biên giới Miên tiến về, với chằng chịt những con lạch nhỏ. Tại bãi mìn này là nơi mà các cán binh Cộng Sản lần lượt bỏ xác lại không thể nào đếm xuể.
Ngoài các công việc nguy hiểm như hành quân, truy lùng, và tiêu diệt quân Cộng Sản, những người lính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa còn thực hiện nhiều công tác dân-sự vụ để giúp đỡ và duy trì nếp sống cho những dân lành sinh sống quanh vùng. Hình chụp một binh sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thuộc lực lượng Thủy Bộ đang cùng một người bạn cố-vấn Mỹ thăm viếng và tiếp tếp một số dân làng sống dọc theo bờ sông Bassac (hình ảnh: special collection).
Căn cứ Tuyên Nhơn, chạy dọc theo mé kinh, bờ Nam, dài độ 200 thước, rộng không quá 100 thước. Phía mặt và phía sau căn cứ cũng dầy đặc một băi mìn. Sát ngang hàng rào, phía tay trái là sân đáp trực thăng, và sau đó Quận Đường Tuyên Nhơn. Nơi đồn trú của Liên Đoàn Đặc Nhiệm 214-1, gồm Giang Đoàn 43 Ngăn Chận và Giang Đoàn 64 Tuần Thám. Đây là cái gai khó nuốt của Cộng Sản, là trở ngại chết người trên con đường huyết mạch của địch.
Vào thời gian cuối của cuộc chiến, lực lượng mạnh mẽ của Việt Cộng tại vùng này là Đoàn 232, có nhiệm vụ san phẳng vùng này, cắt đứt Quốc Lộ 4, để làm bàn đạp đưa quân và đồ tiếp liệu tư biên giới Vệt-Miên về Vùng 4 Chiến Thuật. Chúng đã cố sức nhiều lần muốn san phẳng Căn Cứ Tuyên Nhơn, nhưng, dù rất nhiều lần tấn công tàn bạo, Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn vẫn còn đó. Sau đây là những trận đánh tiêu biểu trong thời gian ấy.


NHỮNG TRẬN THƯ HÙNG ÁC LIỆT
Đêm 6 tháng 12 năm 1974, một trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) đã tràn ngập khu này, san phẳng các đồn bót, chiếm chợ Tuyên Nhơn. Chúng dùng hỏa tiển 122 ly pháo như mưa vào Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn trước khi cho bộ binh tấn công. Dưới cơn mưa pháo, các mái nhà trong căn cứ đều bay hết, nhưng Căn Cứ Tuyên Nhơn vẫn đứng vững. Mọi quân nhân và gia đ́nh binh sĩ được ở dưới hầm. Chi Khu Tuyên Nhơn, nằm sát căn cứ cũng vẫn còn đó. Xác địch nằm la liệt bên hàng rào đơn vị.


Đêm hôm sau, 7 tháng 12 năm 1974, Việt Cộng lại tấn công tàn bạo hơn. Căn cứ Hải Quân và Chi Khu Tuyên Nhơn vẫn chống trả mãnh liệt. Địch lại phải rút, bỏ lại 12 xác chưa kịp đem đi. Để giải tỏa áp lực, Sư Đoàn 9 Bộ Binh mở cuộc hành quân chận đường tiến quân của địch. Ngày 11 tháng 12 năm 1974, bộ binh được trực thăng vận đến. Một đại đội Trinh Sát, khi sắp sửa đáp xuống sân bay, chiếc Chinook bị bắn rơi bằng hỏa tiển SA-7. Chiếc trực thăng bốc cháy, và hầu như rất ít người sống sót. Chiếc trực thăng rơi xuống như một khối lửa trước sự chứng kiến của toàn thể thủy thủ đoàn trên các chiến đĩnh nằm tản mát trên mặt kinh. Sau trận thư hùng này, mặt trận Tuyên Nhơn có phần lắng dịu. Sự lắng dịu của đợi chờ, và đón nhận những trận thư hùng khác ác liệt hơn.
Ngày đó cũng không xa. Đó là ngày 26 tháng 3 năm 1975, một cuộc tấn công quy mô hạn, tàn bạo hơn và cũng liều lĩnh hơn đã được diễn ra tại vòng rào Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn.


Như một định mệnh khắc nghiệt, một thử thách lạ lùng, trong các đụng độ trên, cũng như cuộc thư hùng ác liệt hôm 26 tháng 3 năm 1975, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Đặc Nhiệm 214-1, Hải Quân Thiếu Tá Đoàn Quang Vũ hoặc đi hội, hoặc đi phép, cả căn cứ gồm 2 Giang Đoàn 43 Ngăn Chận và 64 Tuần Thám, chỉ có Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn là sĩ quan thâm niên hiện diện. Chính Thiếu Tá Tuấn đã lần lượt phải gồng mình chống lại các cuộc tấn công này. Cuộc thư hùng thật khốc liệt. Trận địa, sau một đêm tốc chiến, xác địch ngổn ngang, chồng lớp. Sau trận này, Tuấn có mặt tại Saigon, và sau đây là cuộc đụng độ ác liệt được viết lại theo lời kể cuả "Người Hùng Tuyên Nhơn," như sau:
Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thông, Tư Lệnh Lực Lượng Trung Ương vị chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tá Tuấn, sau lần thanh tra, nhắc "các cậu phải cẩn thận tối đa nghe." Rồi Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Tư Lệnh Hạm Đội Đặc Nhiệm 21, chỉ huy tất cả các lực lượng trong sông ở Vùng 4 cũng như các căn cứ trong vùng, cũng nhắc: "Cẩn thận nghe Tuấn..." Tuấn chỉ "dạ" rồi nhìn lên tấm bản đồ trong phòng hành quân. Các vị trí phản pháo đã sẵn. Các điểm hỏa lực cũng được bố trí thật chu đáo. Có điều Tuấn lo là tình trạng căng thẳng kéo dài quá lâu sợ tinh thần anh em nản và lơ là. Vì thế, giữa cơn lo cực độ, Tuấn phải làm ra vẻ cười đùa. Buổi chiều Tuấn hay uống bia. Đôi khi Tuấn đem chai bia Quân Tiếp Vụ ra ụ súng uống với lính.


Hai giờ sáng, Tuấn vẫn còn thức, chăm chú trên các trang sách của cuốn Công Pháp Quốc Tế. Tuấn gập sách lại, đi một vòng căn cứ, luồn trong các đường hầm. Cùng lúc ấy Tuấn gọi cho các chiến đĩnh đang tuần tiễu, phân tán, phải sẵn sàng theo kế hoạch đã ấn định. Tuấn đứng trên nóc lô cốt chính nhìn ra bốn phía. Những hàng đèn vàng èo uột lấp loáng qua những hàng kẽm gai. Gió từ mặt kinh thổi mát. Mặt kinh vẫn phẳng lặng. Không hiểu sao Tuấn thấy rờn rợn. Tuấn định thần lại và sao thấy thiếu hẳn tiếng vạc bay qua bầu trời. Tuấn cho đèn pha chiếu ra hàng rào ở mặt trước căn cứ. Ánh sáng vừa loé lên, Tuấn thấy ở ngoài hàng rào, lính cộng sản lô nhô, tức thì từng tràng đạn bùng lên từ hai phía.


Ngay lúc ấy, hỏa lực của quân đội tại các ụ súng phản pháo ngay. Các chiến đĩnh tản mác trên mặt kinh được tức tốc chạy về. Địch đã đen kịt ở hàng rào trước mặt căn cứ bên kia sông. Chúng như đàn chó đói, không sợ chết, đang muốn vượt rào lội qua kinh để cướp tàu và áp đảo căn cứ. Các khẩu đại bác trên các chiến đĩnh bình tĩnh đan chéo những lằn đạn. Xác địch rụng xuống như sung. Đợt xung phong của chúng tạm ngừng.
Trận địa bỗng yên lặng ghê rợn. Rồi một loạt hỏa tiển 122 ly, có lẽ từ chợ Tuyên Nhơn, câu vô, rất chính xác, nổ tung trên căn cứ và cả mặt trước. Các chiến đĩnh vội tản ra để tránh pháo. Pháo ngưng. Lại một đợt xung phong khác ở sau hàng rào bên kia bờ đất sát con kinh. Chúng lại ào ào muốn lội qua kinh. Súng ở các ụ súng từ ven bờ kinh, trên căn cứ bắn ra như mưa. Một số địch quân đã qua được bên này kinh, bờ Nam, dùng bộc phá cắt đứt hàng rào. Tất cả diễn tiến ác liệt nói trên Tuấn đều báo cáo đầy đủ. Trời đã gần sáng. Địch đã khá đông ở ngoài hàng rào, đồng loạt hô xung phong. Đúng lúc ấy, loạt mìn đĩa, hướng ra sông nổ bùng. Từng xác người bay lên, rồi im bặt. Mặt trận l¡ng lại như qua một cơn mê. Trời đã sáng. Mặt kinh phẳng lặng. Các chiến đĩnh lần lượt quay về căn cứ. Tuấn cầm máy báo cáo lên thượng cấp: "Địch đãrút. Xác địch nằm đầy ngoài hàng rào."


Vào khoảng 11 giờ trưa, 27 tháng 3 năm 1975, chiếc trực thăng đáp xuống. Thượng cấp là Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thông, và Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng. Trận địa vẫn ngổn ngang xác địch và âm ỷ khói than. Ngoài một số vũ khí vừa thu nhặt lại, còn rất nhiều xác địch nằm ở hàng rào mặt tiền đơn vị, cũng như ở gần bên kia hàng rào, phía bờ Bắc con kinh.


Kết quả của cuộc phản công này của căn cứ Hải Quân Tuyên Nhơn, đãlàm địch khiếp vía và tất nhiên tràn ngập căm thù. Bên ta, hơn 30 chiến sĩ tử trận và bị thương. Tuấn, Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, được Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Vùng IV Chiến Thuật, nhiệt liệt ngợi khen, và đề nghị thăng cấp Trung Tá tại mặt trận. Nhưng phải chăng đó cũng là niềm vinh quang báo trước sự bất hạnh của một người anh hùng, đôi bên chẳng đội trời chung.
Xác địch được vứt lên GMC, đem đi chôn tập thể. Một số xác địch chìm dưới lòng kinh, mấy hôm sau mới nổi lên trôi đi, trôi lại trên khúc sông này. Chợ Tuyên Nhơn cách căn cứ 3 cây số. Một số dân còn ở lại, nhìn xác địch nỗi trôi mà bàn tán, lắc đầu. Đồng thời tên Lê Anh Tuấn khét tiếng khắp vùng.


PHÚT CUỐI CỦA MỘT ANH HÙNG
Tại căn cứ chiến lược Tuyên Nhơn, vào các ngày chót của cuộc chiến nơi đồn trú của Liên Đoàn Đặc Nhiệm 214-1 vẫn sinh hoạt đều hòa, bình tĩnh. Mặc dù, gần một nửa chiến đĩnh đã bất khiển dụng, một phần là trúng đạn pháo kích của địch, một phần là các cơ phận thay thế đã không còn. Chiến đĩnh nằm gác mũi vào bờ như những lô cốt tiền sát. Qua tin tình báo và qua sự phát hiện tình cờ của dân, đại quân của địch dù không "nuốt" được căn cứ Tuyên Nhơn, cũng đãtràn từ biên giới Việt-Miên về. Các đồn bót phía Bắc kinh Đồng Tiến đã bị tràn ngập. Bên kia sông Vàm Cỏ Đông, Công Trường 7 của địch ào ạt từ Mỏ Vẹt, Đồng Tháp Mười tiến qua kinh Ngang, đang áp đảo phía Bắc con kinh Thủ Thừa, nối liền hai nhánh sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Địch im lặng như thầm nhủ: "Để đó, rồi mày sẽ biết tay tao."
Lúc ấy, Saigon đang ở vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Mặt trận Xuân Lộc, là một biểu lộ dũng mănh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cửa ngõ của Saigon. Chính trị rối ren. Dân chúng thủ đô bắt đầu rối loạn. Nhưng cả Vùng 4 vẫn còn yên. Căn cứ Tuyên Nhơn vẫn bình thản đợi chờ một cuộc thư hùng khác. Nhưng không, tất cả vẫn thật là êm ả dù áp lực của địch mỗi lúc mỗi khép lại dần, mỗi lúc mỗi thấy khốc liệt. Ánh mắt của dân trên các con đường qua lại, như có điều gì lo âu, e ngại. Các mặt trận khác mỗi lúc mỗi ác. Tới tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tư Lệnh Phó Lực Lượng Trung Ương, Hải Quân Đại Tá Vũ Xuân An gọi cho Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn: "Bằng mọi cách phải đưa đạn vị rời Tuyên Nhơn." Cùng lúc này, Đại Tá An cho Tuấn hay là "quân đội mình đã rã ngũ," Tuấn liên lạc lại với Hải Quân Thiếu Tá Phạm Văn Tạo, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn Đặc Nhiệm có mặt tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh, để được xác nhận: Bộ Tư Lệnh Hải Quân Saigon và Hạm Đội đã ra đi."
Trước hoàn cảnh này, Tuấn, với tư cách sĩ quan thâm niên hiện diện tại căn cứ chiến lược Tuyên Nhơn, đã họp các sĩ quan và các thuyền trưởng lại, tại hầm chỉ huy, và tuyên bố: "Nhân danh Tư Lệnh Hải Quân, tôi tuyên bố giải nhiệm các đơn vị trong vùng trách nhiệm... mình phải ra khỏi đây, về Bến Lức, hoặc xuôi ra biển." Để có thời giờ thu xếp cuộc lui quân, đơn vị vẫn sinh hoạt điều hòa, các vọng canh vẫn cẩn mật.
Sáng hôm sau 30 tháng 4 năm 1975 căn cứ Tuyên Nhơn vẫn như thường. Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vẫn phất phới trên cột cờ giữa sân đơn vị. Tất cả quân nhân các cấp toàn căn cứ và thân nhân kể cả đàn bà và trẻ nhỏ độ 250 người, các chiến đĩnh còn hoạt động được của cả 2 Giang Đoàn 64 Tuần Thám và Giang Đoàn 43 Ngăn Chận là 23 chiếc. Mọi sửa soạn để ra đi rất bình tĩnh, chu đáo. Vì thế, lúc gần trưa 30 tháng 4 năm 1975, khi Đại Tướng Dương Văn Minh, TổngThống Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố: "Tôi yêu cầu anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.", thì căn cứ Tuyên Nhơn đã sắp sửa hoàn tất để lên đường. Tuân theo chỉ thị nói trên, tất cả các chiến đĩnh của căn cứ đều cắm một mảnh vải trắng trên cần ăng ten, nhưng Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa vẫn bay phất phới ở sau lái tàu.


Mọi người xuống tàu vào lúc 5 giờ chiều. Trên bờ lính bộ binh, ở ngoài hàng rào đơn vị đứng đầy. Họ ngơ ngác, cổi áo, buông súng, nhìn theo. Trong đám người ấy cũng có các cán binh cộng sản đội nón cối.... Đoàn tàu đi rất chậm. Chiếc HQ 7773 do trung sĩ vận chuyển Nguyễn Văn Lực, đi sau cùng. Chỉ độ nửa giờ đoàn tàu đã ra tới ngă ba kinh Đồng Tiến và sông Vàm Cỏ Tây, rẽ mặt, xuôi theo con nước, đi về phía hạ gịang. Theo anh Lực nói lại: "Tàu tiến thận trọng, lệnh ra là không được khai hỏa, nhưng phải sẵn sàng. Mà, lạ lùm, trước đây ở miệt này, khi đi tuần chỉ thấy bờ sông tối om. Sao mà hôm nay ở hai bên bờ, nhất là bên phía mặt, có nghĩa là vùng đất phía Nam căn cứ Tuyên Nhơn, đèn đóm ở đâu mà trùng điệp như sao xa." Vẫn theo lời anh Lực kể: "Ông Tuấn dặn rất kỹ cố rời căn cứ, nếu không đến Bến Lức được thì ra biển. Trên các chiến đĩnh đồ ăn đem đủ cho 2 đến 3 tuần."
Bỗng trên hệ thống âm thoại chỉ huy, có tiếng nói của Việt Cộng xen vào rất rành rẽ: "Các anh hãy buông súng xuống, lần lượt từng chiếc một ủi bãi vào bờ bên trái." Đoàn tàu khựng lại một chút và được lệnh cứ tiến. Tiếng nói của địch rạ hạn: "Các anh hãy nghe lệnh của Quân Đội Giải Phóng, buông súng và ủi bãi, từng chiếc một."


Đoàn tàu cứ đi. Rồi một trái đạn bùng lên, xanh lè ở phía trước đoàn tàu, và tôi nghe trên máy, (lời anh Lực), số 1 của 43 đã chết." Đoàn tàu như không còn linh hồn nữa, chùng lại. Tiếng lệnh của địch lại vang lên. Tàu tôi, chiếc 7773, đi sau chót, sát bờ bên phải, thấy xe tăng Việt Cộng đen ngòm lội ở phía sau tàu, đang hướng đại bác vào tàu mình. Thế là đoàn tàu lần lượt ghé mũi vào bờ bên trái con sông Vàm Cỏ Tây, dưới ánh đèn pin ra lệnh của địch. Lúc ấy, lúc ông Tuấn tự tử chết bằng súng Colt, vào khoảng 12 giờ đêm ngày 30 tháng 4/1975. Ông Tuấn tự tử ý ông không muốn đầu hàng địch, mà dù có hàng địch dễ gì chúng tha mạng cho ông. Còn có 3 người nữa chết vì bị đạn địch bắn ra.
Xác ông Tuấn, theo anh em kể lại, vẫn lời anh Lực, được cuốn trong cuốn drap trắng, và tẩm liệm đêm hôm ấy, vào khoảng 3-4 giờ sáng. Người ở gần ông Tuấn, lo lắng cho ông là anh Uy, Trung Sĩ Vận Chuyển Uy.


Sau này, gia đình anh Tuấn đã từ Mỹ về đến bờ sông Vàm Cỏ Tây tẩm mộ anh Tuấn, thấy ngôi mộ đã được dân chúng tự động xây cất rất to, đẹp. Đào lên giấy tờ bọc plastic vẫn còn nguyên. Hài cốt anh đã được hỏa thiêu và đem qua Mỹ. Gia đình Hải Quân đã làm lễ tiếp đón và truy điệu rất trang nghiêm. Nhiều bạn bè, đại diện các đoàn thể đến nghiêng mình trước di hài và di ảnh của Một Kẻ Anh Hùng Ðã Chết Không Hàng Giặc.


NHỮNG NGÀY TRONG TAY GIẶC
Anh Nguyễn Văn Lực, Trung Sĩ Vận Chuyển, cựu "Bố Kép" của Giang Đoàn 64 Tuần Thám kể lại:
Lên bờ thì các sĩ quan mình chúng đem đi đâu riêng biệt. Còn tụi tôi, đâu ở đó, vẫn ở dưới tàu. Súng ống, đạn dược vẫn còn nguyên, lúc đầu cũng sợ, sau quen dần. Các nhân viên khác thì chúng cấp giấy cho về nhà, ngoại trừ nhân viên cơ khí và thuyền trưởng, chúng giữ lại. Nhưng các anh em khác, nhà gần, ở Saigon, hay đâu đó ở Miền Nam lần lượt trốn về. Nhà tôi tận Đà Nẵng xa quá, không dám trốn. Tàu tôi, (vẫn lời anh Lực) chúng cho 2 người xuống ở cùng, đem theo súng ống. Một anh là Thượng Sĩ Điều, đặc công bờ, gốc Nghệ An. Anh Điều nói, đại đội tôi từ Bắc vào, giờ chỉ còn trên 10 đứa.
Anh Điều còn nói: "Cách 5 hôm trước khi các anh buông súng, tôi có theo dõi tàu anh, biết anh là "Bố Kép" của tàu. Tôi nhắm B-40 bắn, chưa bóp cò thì các anh đã phản pháo, cành cây trước mặt tôi gãy, chứ nếu chậm chút xíu thì tàu anh đã tiêu!"
Anh Uẩn, Chuẩn Úy, đặc công thủy nói: "Chúng tôi được huấn luyện vào Nam để cướp tàu Mỹ." Vẫn lời anh Lực kể: "Tôi phải ở lại với bọn chúng gần 3 tháng, phải lái tàu cho tụi nó đi đây đi đó, có lúc ghé chợ Tuyên Nhơn, ngang ngã ba vào căn cứ. Tàu ghé chợ, gặp mấy người bán hàng quen họ nói: "Ủa, chớ anh "Bố Kép" qua bên này hồi nào. Thì mình chỉ cười trừ cho qua chứ nói sao."


"Bố Kép" tên gọi quen thuộc, vừa thân tình, vừa có chút uy lực của một vị thuyền trưởng chỉ huy một chiến đĩnh của mình trong lửa đạn. Ai được làm thuyền trưởng là một danh dự, thường đã phải trả bằng những gian lao, cực khổ, nhiều khi là máu của chính mình. Trước các thuyền trưởng của Mỹ, được họ gọi là "Bố Kép" có lẽ là chữ Boat Cap mà ra. Anh Lực cũng không biết có phải như thế không, nhưng ai đã là "Bố Kép" là một tay súng cừ khôi, là một chiến sĩ can trường, có thể làm mọi thứ trên chiến đĩnh, nhất là phải biết cách chỉ huy đàn em, những người lăn lộn trong lửa đạn, coi cái chết như một sự tình cờ. "Bố Kép," cái tên lan ra cả một vùng lân cận: Anh A ngon à, sắp làm "Bố Kép."
"Bố Kép" Lực cho hay: "Giang Đoàn 43 Ngăn Chận và Giang Đoàn 64 Tuần Thám về tay tụi nó, do tên Tám Quốc chỉ huy. Tám Quốc người Mỹ Tho, và đơn vị có tên mới là C-15. Còn tất cả tàu bè của mình tụ về Bến Lức, dưới sự chỉ huy của tên Trần Đối, cứ như tên và chức vụ mà Trần Đối ký trên giấy di chuyển của tôi thì Trần Đối là Tham Mưu Trưởng Công Trường 5 của quân giải phóng."


Được dịp nói chuyện với "Bố Kép" Lực, người viết có hỏi một câu chót: "Anh nghĩ gì về cuộc chiến cũ." Anh Lực nói: "Thì mình là dân phải đi lính. Bên kia cũng thế. Lúc chưa đình chiến thì bắn nhau. Ngưng tiếng súng, gặp lại nhau thấy sao buồn cười quá." Hiện anh Lực ở San Diego, các con anh đã lớn, thành đạt. Anh làm nghề xây cất, kể như rất thành công.


Phan Lạc Tiếp
Tháng 10/1999

Thursday, January 14, 2010

NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ RƠI .. TRÊN BÃI BIỂN THUẬN AN.


Gia Đẳng, Quảng Trị ngày 7/3/1975.


Hôm nay là ngày bàn giao chức vụ Trung Đội Trưởng Quân y TĐ.9/TQLC giữa tôi và người mới đến thay thế là BS Thi. Khi chúng tôi bước ra khỏi hầm trú ẩn thì đã thấy Trung Sĩ Khương, y tá trưởng tiểu đoàn cùng 21 quân y tá xếp một hàng ngang, súng M16 trên vai, nón sắt áo giáp, mặt nạ chống hơi độc, túi cứu thương, quân phục chỉnh tề sẵn sàng chờ lệnh.


Có lẽ do tình thầy trò sắp chia tay nhau nên khi thoáng trông thấy Khương là bao nhiêu kỷ niệm cũ hiện ra làm tôi cảm động, nhớ về những gian nan từng trải qua cùng anh em. Có những lần tiểu đoàn đụng nặng, cả trung đội Quân Y phải thức suốt đêm để cứu chữa thương binh, thầy trò chúng tôi tận dụng tất cả những gì đã học hỏi được để cấp cứu, cố mang họ ra khỏi bàn tay của tử thần rồi sáng sớm hôm sau chúng tôi bồn chồn lo lắng chờ đợi trực thăng tải thương đến. Có lần Khương đã nhanh tay giúp tôi cứu một thương binh mà tôi không bao giờ quên:
“Anh TQLC phía trước, cách tôi chừng 15m, bị trúng đạn đang lăn lộn, tôi ngập ngừng bò về phía nạn nhân thì nhiều tiếng súng tiếp theo khiến tôi điếng hồn toát mồ hôi toan quay trở lại thì hai ba người lính khác từ phía sau bò qua tôi vượt lên, họ loay hoay chưa biết làm gì để cứu đồng đội bị thương. Tôi cảm thấy hổ thẹn vì sự nhút nhát của mình nên quyết định tiếp tục bò nhanh đến bên các anh. Anh thương binh đang thở đứt quãng, máu miệng và mũi đang phun ra kèm theo vài cái răng. Viên đạn trúng má phải xuyên qua má trái, máu chảy vào trong miệng khiến anh không thở được, tôi biết phải làm gì thật nhanh để cứu sống anh, tôi với tay lên túi cứu thương đang đeo trên vai để lấy dao mổ thì ..thất kinh, túi cứu thương đã bị bắn nát! Đang bối rối thì một bàn tay vỗ vai, tôi quay đầu lại thì y tá Khương đưa ra con dao mổ, tôi vội giật con dao trong tay Khương và nói nhanh: “ống thở”. Tay tôi sờ cổ nạn nhân để tìm vị trí mổ, khi dao mổ vừa rút ra khỏi cổ anh lính thì Khương nhét ngay cái ống thở vào vết mổ, cả tôi và Khương cùng mừng nhìn sắc mặt người thương binh đang đổi từ tím sang hồng”.
Tiếng hô “NGHIÊM” của Trung Sĩ Khương làm tôi trở về hiện tại, tôi cho anh em thao diễn nghỉ, tôi định nói thật nhiều về trách nhiệm và bổn phận của người y tá ngoài mặt trận, nhưng khi nhìn những khuôn mặt rắn rỏi thân yêu, những cánh tay lực lưỡng xâm hai chữ “Sát Cộng”, lòng tôi bỗng bùi ngùi xúc động. Đã hai năm rồi chúng tôi chia ngọt xẻ bùi cùng cay đắng với nhau, nay là lúc tôi ra đi để nhường chỗ cho người y sỹ khác, sự chia tay này không dễ dàng như tôi tưởng. Tôi nghẹn ngào căn dặn anh em như một người anh cả trong gia đình:


_ “Bây giờ tình thế rất nghiêm trọng, Cộng quân có thể mở những trận đánh quyết định bất cứ lúc nào, tôi mong anh em đoàn kết bảo vệ lẫn nhau và để giúp BS Thi hoàn thành nhiệm vụ”.
Sau khi bắt tay và an ủi từng người đệ tử cũ và chào ông bác sĩ mới, tôi lên ban 3 tiểu đoàn để chào từ giã các sĩ quan tham mưu và gọi máy C25 để từ biệt bốn ông đại đội trưởng. Lại một màn giã từ đầy cảm động, tôi đã sống với TĐ.9/TQLC ngót hai năm, tình chiến hữu đã đổi thành tình huynh đệ, tôi không muốn rời khỏi tiểu đoàn trong tình thế nóng bỏng này. Bỗng một quyết định đến với tôi mà cho đến giờ phút này tôi cũng không biết đúng hay sai, lý doTĐ.9/TQLC bấy giờ đang trực thuộc LĐ.258/TQLC đóng tại Mỹ Thủy Quảng Trị, nếu tôi về Đại Đội Quân Y/LĐ258 thì tôi vẫn có thể săn sóc thương binh của TĐ.9 khi trận chiến xảy ra, tôi liền mượn máy Tiểu Đoàn 9 gọi cho Tiểu Đoàn Quân Y của SĐ/TQLC tại Hương Điền để trình bày quyết định này. May thay TĐT Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế hiểu được nhu cầu cần thiết trên tuyến đầu nên chấp thuận tăng phái tôi cho ĐĐ QY/LĐ 258 trong vòng hai tuần lễ.
Con đường từ bãi biển Gia Đẳng đến bãi biển Mỹ Thủy là một chi nhánh của hương lộ 555, đây là một HL tuyệt đẹp, một bên là cát trắng biển xanh bao la, một bên là những đồi dương liễu nên thơ, và hương lộ này cũng đã đi vào văn học lịch sử thế giới bởi nhà văn thân Cộng người Pháp quốc tịch Mỹ tên Bernard Fall.


Năm 1953 Bernard Fall đã đi theo đoàn quân viễn chinh Pháp hành quân trên HL.555 và đã chứng kiến đoàn quân này bị Trung Đoàn 95 Việt Minh đánh bại. Về nước, Bernard viết cuốn sách “Street Without Joy” trong đó anh ta đã thần thánh hóa TĐ.95/VM, đây là một cuốn sách rất nổi tiếng được dịch ra nhiếu thứ tiếng và đã biến Bernard thành một đại “văn hào”.
Năm 1966, Bernard Fall trở lại Việt Nam và đi theo cuộc hành quân của TĐ.1 và TĐ.2/TQLC, đổ bộ tại Gia Đẳng, tiến quân đọc theo HL.555 lên phía Bắc, dồn Trung Đoàn 95 VC tới bờ sông Vĩnh Định, Bích La Thôn và tiêu diệt trung đoàn này dưới con mắt đau buồn của Bernard.
Sau khi chứng kiến TrĐ.95VC bị hai Tiểu Đoàn 1&2/TQLC dìm xuống lòng sông Vĩnh Định, Bernard Fall đã đi theo quân đội Mỹ hành quân trên HL555, nhưng quân đội Mỹ đã không bảo vệ anh như TQLC/VN mà anh ta đã không tiếc lời nguyền rủa và rồi Bernard đã đạp phải mìn bẫy của TRĐ.95/VM còn sót lại và chết trên “Street Without Joy” của anh ta!
Nói đến HL555 mà không nói về Bích La Thôn thì quả là một sự thiếu sót, đây là một thôn làng xinh đẹp nằm bên bờ sông Vĩnh Định, một con sông đẹp không kém gì sông Hương, nơi đây có một cây cầu thơ mộng mà dân địa phương gọi là cầu Ba-Bến. Tục truyền rằng cách nay hơn 200 năm, có một vị chúa Nguyễn đầy lòng nhân từ, trước khi qua đời ông đã ra lệnh tha tất cả các cung nữ của ông về Bích La Thôn để họ làm lại cuộc đời, không biết vì ảnh hưởng di truyền hay vì phong thủy hữu tình mà những người con gái của Bích La Thôn đều có một sắc đẹp lạ lùng, khác hẳn với các giai nhân của những vùng khác của đất nước, ở đây họ sống mộc mạc nhưng vẫn giữ những tập tục của Hoàng Cung Huế. Bởi vậy tại miền Trung có câu tục ngữ: “Cau Vỹ Dạ, gái Bích La”. Đang mải nghĩ về anh văn sĩ người Pháp ngây thơ và lãng mạng, về những người đẹp Bích La Thôn thì xe đã đến Mỹ Thủy và rẽ vào BCH/LĐ.258/TQLC.

Mỹ Thủy, Quảng Trị .. Ngày 08/3/1975 đến 18/319/75.
Đèo Phước Tường, Huế .. Ngày 18/3/75 đến 25/3/1975.


Đại đội QY/LĐ.258/TQLC có 3 y sĩ, ông ĐĐT là một người sống khắc khổ và chịu đựng, hai người y sĩ phụ tá là BS Nhi, anh là y sĩ bệnh viện Lê Hữu Sanh, vì phạm kỷ luật nên bị đày ra LĐ 258, sau 30/4/75, anh được giữ chức vụ quan trọng trong ngành y tế tại Saigon, vì anh có thân nhân làm lớn trong MTGPMN. Người kia là BS Duy, anh là “ngôi sao” đang lên của Quân Y TQLC, khi còn lội theo tiểu đoàn, anh đã được gắn ADBT và được báo Sóng Thần của SĐ/TQLC khen, nhưng không ngờ anh lại là một tên tình báo của VC, và gần đây anh đã giải ngũ với cấp bậc trung tá tình báo VC. Vì đại đội quân y đã đủ y sĩ nên tôi chỉ làm những công việc lặt vặt coi như để chờ ..!
Ngày 11/3/1975, đài BBC loan tin Ban-Mê-Thuột bị thất thủ, tôi vội lên Ban Ba Lữ Đoàn để biết thêm tin tức thì gặp Trung Tá Huỳnh Văn Lượm, một vị TĐT cũ của tôi và lúc này tôi mới biết ông đang là LĐP/LĐ.258, (LĐTr là Đại Tá Nguyễn Năng Bảo), chúng tôi vui mừng chào hỏi nhau rồi anh Lượm mời tôi ăn cơm tối cùng với Đại Úy Quận Ban 2 LĐ. Trong bữa cơm anh buồn bực nói:


_ “Cái “chiến lược” đem lực lượng tổng trừ bị căng ra để giữ đất không khá được, trong khi VC chúng tụ quân đánh ta chỗ này chỗ khác. Đất mất mà quân còn thì ta chiếm lại mấy hồi, còn quân mất thì làm sao giữ đất?”.
Tôi hỏi ông liệu có một trận đánh quyết định tại QK1 thì ông trầm ngâm:
_ “Quân CSBV bây giờ không mạnh bằng năm 1972, vì những quân tinh nhuệ của chúng đã bị ta giết gần hết rồi, bây giờ chúng thay thế bằng đám thanh niên mới thiếu kinh nghiệm tác chiến, chúng biết QĐ.1/QK1 có 4 sư đoàn thiện chiến, vũ khí đạn được tích trữ đầy đủ, dù có đánh nhau một hai năm cũng chưa hết, vì thế chúng sẽ không mở một trận đánh quyết định tại QK1 mà chỉ bám sát, đợi lúc ta rút quân có sơ hở thì mới đánh”.


Sự tiên đoán của Trung Tá Lữ Đoàn Phó LĐ.258/TQLC khá chính xác, vì cho tới ngày 29/3/1973 khi QĐ.1 rút khỏi Đà Nẵng, thì đã không có một trận đánh lớn nào xẩy ra.
Ngày 16/3/1975 Lữ Đoàn 369/TQLC, trong đó có TĐ.9 rời Quảng Trị di chuyển về Đại Lộc, Thượng Đức để thay thế LĐ.3 Nhẩy Dù. Tôi chưa kịp xin đổi về TĐQY thì ngày 18/3/75, LĐ.258/TQLC cũng được lệnh di chuyển từ Mỹ Thủy đến đèo Phước Tường để thay thế cho LĐ.2 ND, thế là tôi có mặt trên đèo và đã nghe đã thấy tất cả những gì xẩy ra sau đó trên QL1, vì đèo Phước Tường nằm trên QL1, phía Nam Huế và phía Bắc đèo Hải Vân.
Theo lệnh hành quân thì LĐ.258/TQLC có nhiệm vụ:
-Bảo vệ trục giao thông trên QL1 để LĐ.147/TQLC, SĐ.1/BB, LĐ.14BĐQ, Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh, các TĐ Pháo Binh và các đơn vị khác của QĐ.1 Tiền Phương đang chiến đấu tại Quảng Trị, Huế rút về Đà Nẵng.
- Làm lực lượng ngăn cản các đơn vị truy kích của CSBV sau khi các đơn vị kể trên rút an toàn về Đà Nẵng.
- Cùng bảo vệ QL1 từ Huế đến đèo Hải Vân còn có Liên Đoàn 15/BĐQ từ phái Bắc đèo Phước Tường đến phía Nam Huế và LĐ 468/TQLC từ phía Nam sông Truồi đến đèo Hải Vân.
Từ ngày 19/3/75 đến ngày 23/3/75, dân chúng Quảng Trị, Huế đổ về Đà Nẵng, họ dùng đủ mọi phương tiện, từ xe hơi, xe ba bánh, xe đạp và cả đi bộ nữa, dòng người kinh hoàng sợ VC đã chen chúc nhau trên QL1 ngày cũng như đêm, nhiều người quá mệt mỏi ngã gục trên đường liền bị xe cán qua! QĐ.1 đã không làm bất cứ một cái gì để giúp đỡ họ, chẳng thấy một ông “lớn” nào lên đài phát thanh hay bay trên trời để hướng dẫn hoặc trấn an dân chúng! Dân đi thì đặc công, du kích VC cũng giả dạng tỵ nạn đi theo, không thấy QĐ.1 có biện pháp nào để thanh lọc chúng. Tôi tự hỏi đã có bao nhiêu tiểu đoàn đặc công VC lọt vào Đà Nẵng một cách “hợp pháp”?


Ngày 23/3/75, dòng người tỵ nạn đột nhiên chấm dứt, một số người bị thương vì đạn AK của VC được mang đến cho chúng tôi điều trị. Theo lời kể lại của các nạn nhân thì một toán VC đã lập một cái chốt gần cầu Hai (cầu Đá Bạc) xả súng bắn vào đoàn người di tản để ngăn chặn lưu thông trên đoạn đường này.
Tối 23/3/75, đài phát thanh VC loan báo chúng đã “diệt gọn” LĐ.258 và LĐ15 BDQ và chúng đang kiểm soát QL1 từ đèo Phước Tường cho đến Huế (?)
Sáng ngày 24/3/75, tôi đi theo xe cứu thương để cấp cứu một anh Tr/Sĩ BĐQ, anh bị trúng đạn vào vai phải, gặp tôi anh nói:
_ “Thiệt tức muốn chết được ông thầy, tôi canh me tụi nó từ chiều hôm qua, ai ngờ nó làm tôi trước, vì nó có súng gắn ống nhắm, nếu tôi có cây 75 ly thì hốt trọn ổ tụi nó rồi”.
Tôi an ủi rồi băng bó cho anh thương binh xong rồi sai y tá đưa anh về đèo Phước Tường để khâu lại vết thương. Anh Tr/Uy BĐQ có vẻ lo lắng cho đệ tử nhưng tôi bảo anh an tâm, vì vết thương của tr/sĩ không nguy hiểm, nhân tiện tôi hỏi anh về tình hình tại cầu Hai thì anh cho biết:


_ “Vẫn yên tĩnh, ngoại trừ cái chốt bắn sẻ cản trở lưu thông, chặn đồng bào di tản, tôi đang chờ trung đội súng nặng đến tăng cường để dẹp cái chốt này.”
Đoạn QL1 từ cầu Hai đến chân đèo Hải Vân chỉ dài hơn 20 km, nó là con đường huyết mạch và duy nhất để tiếp tế tiếp viện và rút quân cho các đơn vị phía Bắc, mất đoạn đường này có nghĩa là các đơn vị đang chiến đấu tại Quảng Trị và Huế sẽ bị cô lập. Tối hôm trước, 23/3 VC đã loan tin láo khoét là chiếm được đoạn đường này với mục đích làm hoang mang tinh thần chiến đấu của các đơn vị này vậy mà QĐ.1 đã không cải chính để trấn an tinh thần binh sĩ!


Từ ngày 19/3/75, quân CSBV đã bám sát LĐ.258, tiền sát viên của chúng trà trộn vào dân tỵ nạn đến gần quân ta nên chúng điều chỉnh pháo binh rất chính xác, đã có vài trái 130 ly rơi vào sân trực thăng phía sau ĐĐ/QY. Lữ đoàn cho mở những cuộc hành quân đẩy lui địch về phía Tây cách QL1 ba, bốn km. ĐĐ/QY Lữ Đoàn dựng một cái lều lớn trên bãi trực thăng để làm trại cứu thương, tôi được chỉ định làm việc tại đây. Trưa ngày 24/3/75, địch bắt đầu pháo nhiều hơn, chúng pháo từ hai ba vị trí khác nhau ở phía Tây, đạn rơi chung quanh vị trí Lữ Đoàn rồi chúng kéo từ từ lại gần, cường độ khoảng ba bốn trái một phút. Chiều 24/3/75 tôi nghe nhiều tiếng súng lớn nhỏ từ phía cầu Hai dội về, tôi biết BĐQ đang tấn công nhổ cái chốt bắn sẻ. Một lúc sau y tá mang về cho tôi 2 thương binh BĐQ, cả 2 anh đều bị bắn bên vai phải và các anh cho biết tên bắn sẻ đã bị hạ, bọn còn lại bỏ chạy vào rừng phía Tây, BĐQ đã nhổ xong cái chốt trên cầu Hai, địch không còn, như vậy QL1 đã an toàn trở lại từ chiều ngày 24/3/75.
Khoảng 6 giờ chiều ngày 24/3/75, thương binh từ mọi nơi được mang về trạm cứu thương Lữ Đoàn càng lúc càng nhiều. Có đủ loại bị thương, những vết thương nhẹ thì lấy đạn, miểng đạn ra rồi khâu lại, nặng thì phải phẫu thuật, đặt ống thở. Có nhiều vết thương đứt động mạch, khi mở băng ra thì máu phun có vòi lên mặt chúng tôi, nhưng đó là chuyện nhỏ, chúng tôi phải cột động mạch và tĩnh mạch thật nhanh, nếu chậm trễ thì thương binh mất nhiều máu nguy hiểm.


Vì lều cứu thương ở trên một vị trí trống trải lại không có bao cát che chắn xung quanh nên tôi đành cho đặt cáng thương binh dưới đất và chúng tôi cấp cứu họ trong tư thế ngồi.
Khi màn đêm xuống, vì tránh để lộ vị trí nên chúng tôi phải làm việc bằng đèn bấm để chích thuốc, truyền nước biển, khâu vá vết thương, điền phiếu tản thương cho gần 50 thương binh gồm TQLC và BĐQ. Khoảng 8 giờ tối, địch bắt đầu tấn công bằng bộ binh vào vòng đai phòng thủ của LĐ, từng tràng M16 xen với tiếng AK47, tiếng lựu đạn, B40, M72, tiếng súng cối, pháo binh đi và đến tạo nên một điệp khúc của tử thần, vài trái 130 ly chạm nổ rơi ngay sân trực thăng, cách lều cứu thương hơn hai chục thước, miểng đạn xuyên qua vải lều, bay trên đầu chúng tôi, cũng may là chúng tôi ngồi làm việc nên không ai bị thương.
Lúc 2 giờ sáng, tôi nhận được một thương binh là thiếu úy TQLC khá lì, anh bị bắn vào vai trái, sau khi y tá lau sạch, tôi chích thuốc tê vào xung quanh vết thương rồi dùng kim chọc vào theo chiều sâu vết thương, tôi định được vị trí của miểng đạn, vì biết chung quanh miểng đạn không có mạch máu và dây thần kinh nào quan trọng nên tôi dùng kẹp mổ thọc vào vết thương để kẹp lấy mảnh đạn ra, với sự giúp đỡ của y tá, tôi dùng dao mổ cắt những sợi thịt vướng vào cạnh của miểng đạn rồi lựa thế kéo nó ra. Mảnh đạn lớn hơn đốt ngón tay, tôi gói cẩn thận tặng lại anh để sau này “thiếu úy tặng cho người yêu” (lưu ý: đây chỉ là một lối mổ dã chiến ngoài mặt trận, các bạn sinh viên y khoa nếu có đọc đoạn này xin đừng làm như tôi).


Khi tôi khâu lại vết mổ cho thiếu úy vừa xong anh ta không tỏ ra đau đớn hay mệt nhọc gì mà hỏi ngay:
_ “Bác sĩ cho tôi trở lại đơn vị được chưa?”
_ “Cần phải dưỡng thương cho vết mổ kín miệng, ông về đơn vị rồi nhiễm trùng, xưng mủ, đứt chỉ khâu lúc đó ông quay trở lại càng vất vả cho chúng tôi thêm. Nhưng sao thiếu úy lại mong trở lại chiến đấu ngay vậy?”
Anh vui miệng kể cho tôi nghe về chi tiết trận đánh rồi kết luận:
_ “Quân chính quy CSBV bây giờ không thiện chiến như năm 1972, bọn này ngờ nghệch chỉ biết dàn hàng ngang xông tới như lũ say thuốc nên lính mình quạt chúng thật đã tay, khi thấy vài đồng bọn ngã xuống là chúng đi thụt lùi. Những dịp này mà không có mặt ở đơn vị để đòi nợ chúng thì thật uổng”.
Khoảng 3 giờ sáng ngày 25/3/75, địch quân bị đẩy lui và bỏ chạy về phía Tây QL1, pháo binh địch ngưng bắn, nhưng pháo ta vẫn bắn truy đuổi. khoảng 4 giờ sáng Tr/Tá Lượm đến thăm trạm cứu thương, ông hài lòng khi thấy tất cả thương binh đều đã được cứu chữa và đang trong tình trạng ổn định để sẵn sàng tản thương, sau đó ông kéo rôi ra khỏi lều cứu thương và nói nhỏ:


_ “Mình sẽ bỏ nơi đây để rút về Đà Nẵng trong vòng một giờ nữa”!
Tôi kinh ngạc hỏi:
_ “Lệnh của ai vậy thưa trung tá?”.
Ông nói:
_ “Do đề nghị của Trung Tướng Tư Lệnh Tiền Phương QĐ1 lên Tướng Ngô Quang Trưởng nên ông cho lệnh Thiếu Tướng Búi Thế Lân phải thi hành, vì TQLC mình đang tăng phái cho QĐ.1”.
Tôi thắc mắc:
_ “Vậy thì số phận Lữ Đoàn 147/TQLC và các đơn vị ở phía Bắc sẽ ra sao một khi mình bỏ vị trí trọng yếu này?”.
Trung Tá Lượm thở dài như không muốn nghe tôi hỏi, rồi ông buồn rầu nói:
_ “Giờ này tôi không thể cho anh biết được, tôi đâu muốn bỏ chỗ này, mình dư sức giữ nó thêm vài tuần nữa mà, nhưng lệnh QĐ là mình phải thi hành”.
Chợt thấy bác sĩ Duy bước ra khỏi hầm trú ẩn, Tr/Tá Lượm nói:
_ “Đại Úy Quận Ban 2 LĐ vừa cho tôi biết vài điều về ông BS mới, những điều tôi vừa nói với BS, chỉ một mình BS biết thôi nhá”.
Thấy ông gọi tôi bằng BS nên tôi biết đây là chuyện hệ trọng nên vội đáp:
_ “Tôi hiểu ý Trung Tá”.
Tôi đau đớn suy nghĩ, anh em chúng tôi đã đổ xương máu để giữ cứ điểm này, chúng tôi đang chiến thắng, xác địch quân vẫn chưa lạnh, tiếng súng truy đuổi địch quân vẫn đang nổ ròn rã, chúng tôi chưa kịp thưởng thức vị ngọt chiến thắng thì đã bị nếm vị cay chua của chiến bại! Bất giác tôi cảm thấy cay mắt, và vì không muốn tỏ ra yếu đuối trước mặt cấp chỉ huy, tôi vội đưa tay chào Trung Tá Lượm, ông bắt tay tôi thật lâu và thật chặt, đôi mắt ông thật buồn và long lanh ngấn lệ dưới ánh sáng hỏa châu, ông cúi đầu đi chậm chạp về phía BCH/Lữ Đoàn.


Thật không ngờ đây là lần cuối cùng tôi gặp ông, sau 30/4/75 ông đi tù và đã bị CS sát hại bằng cách đẩy ông vào chảo nước sôi, vì ông đã ví chúng như những cái máy phát thanh, vắn nút “on” lên thì đứa nào cũng nói một giọng điệu. Xin vĩnh biệt Tr/Tá Huỳnh Văn Lượm, vị TĐT giầu kinh nghiệm và tài giỏi của tôi.
Tôi trở lại trạm cứu thương, phân loại thương binh và phân chia nhiệm vụ cho các y tá, sau đó tôi trở về hầm trú ẩn và mới thấy mệt mỏi, căng thẳng. Đây không phải là lần đầu tiên tôi thức trắng đêm để cứu chữa thương binh, lúc còn lội theo TĐ.9/TQLC, tôi đã làm việc này nhiều lần, nhưng là làm việc trong công sự chắc chắn, được đệ tử bảo vệ và tiếp sức bằng những ca café sữa nóng, điếu thuốc thơm và sau trận đánh, khi thương binh đã được tản thương, thầy trò tôi cùng các sĩ quan tham mưu tiểu đoàn quây quân bên ấm trà điếu thuốc, luận bàn về những kinh nghiệm. Nghĩ lại trận đánh vừa qua, có lẽ thương binh, các y tá và tôi là những người phơi mình dưới pháo địch, không hầm trú ẩn, không bao cát bảo vệ, cũng may là tất cả chúng tôi được bình yên. Tôi tự nhủ nếu sau này tôi làm cấp chỉ huy thì sẽ không bao giờ phạm vào những thiếu sót này.


Trong hơn một tuần lễ có mặt tại Phước Tường, tôi có cảm tưởng như QĐ.1 đã quên chúng tôi! Từ việc QĐ đã bỏ rơi đám người di tản, không lập các trạm y tế và an ninh trên QL1 để giúp đỡ những người kiệt sức và thanh lọc những toán đặc công VC, không cải chính tin vịt do VC tung ra để trấn an binh sĩ, không có một ông lớn nào tới thị sát chiến trường, không có một máy bay nào bay trên vùng trời này và nay ra lệnh bỏ đoạn đường này, khúc xương cổ của QĐ.1, đây có phải là một bản án tử hình cho QĐ.Tiền Phương?
Sáng 25/3/75 lúc 5 giờ, bác sĩ đại đội trưởng ĐĐQY đi họp về và chính thức thông báo lệnh bỏ Phước Tường, tôi được chỉ định đi bộ với một thành phần của BCH/LĐ, còn BS ĐĐT và bác sĩ Duy thì đi bằng GMC cùng với thương binh, còn bác sĩ Nhi thì đã rời Lữ Đoàn từ hồi nào không ai biết!
Tôi chạy về hầm trú ẩn, ăn vội mấy muỗm cơm gạo xấy còn lại từ hôm trước, đổ đầy hai bi-đông nước, đeo dây ba chạc, kiểm soát lại khẩu súng ngắn, nạp một viên vào lòng rồi khóa an toàn, ba-lô, nón sắt, túi cứu thương, tôi xuống đồi và sát nhập vào toán TQLC đang di chuyển trên QL1. Con đường này tôi đã đi lại nhiều lần, hôm nay là lần cuồi cùng nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi bộ trên đó, thật là một kỷ niệm khó quên.
Qua khỏi đỉnh đèo thì một cảnh thiên nhiên hùng vĩ hiện ra trước mắt tôi: nền trời xanh nhạt điểm thêm mấy sợi mây trắng hồng của buổi bình minh, hai ngọn đồi Bạch Mã màu xanh đậm sừng sững phía Tây QL1. Dưới chân đồi, uốn éo giữa những mảng ruộng màu xanh lá mạ trải dài tới tận chân trời là sông Truồi. Sông Truồi nhận phụ lưu của sông Đá Bạc, nước chẩy đôi dòng phản chiếu ánh bình minh như môt dải lụa trắng. Phía Đông QL1 biển xanh bát ngát, sóng vỗ rì rào, lác đác dưới chân đèo một vài thôn xóm vẫn còn ngủ say bên lũy tre xanh. Trong cái yên lặng của buổi chớm bình minh, một vài tiếng gà gáy sáng vọng về. Với phong thủy như vậy chẳng trách miền Trung có nhiều nhân tài, thiên thần cũng lắm mà ác quỷ cũng nhiều và giai nhân tuyệt sắc làm nghiêng thành đổ nước.


Đại đội bảo vệ BCH/LĐ dàn đội hình tác chiến, tiền vệ hậu vệ và nhất là hai cánh phải trái đi sâu vào hai bên đường, thỉnh thoảng những tràng súng nhắm vào những điểm khả nghi, và với kinh nghiệm quan sát của lính tác chiến đã không ít những “nón cối” bật dậy rồi gục xuống trong những bụi rậm đó. Biết là có địch theo dõi và bám sát nhưng “chó rình mặc chó” quân ta tiếp tục di chuyển. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã đến cầu Truồi, cây cầu xinh đẹp này đã bị đơn vị canh giữ phá hủy sáng nay khiến gây trở ngại không ít cho những toán quân đi sau.
Tôi lội qua sông Truồi, nước chỉ đến đầu gối và trong như lọc, qua khỏi cầu Truồi chừng 2km, tôi gặp Thiếu Tá Trần Quang Duật, TĐP/TĐ.16/TQLC, anh đang ngồi trên mui xe jeep, đầu trần, nón sắt bên hông, tay lăm lăm cây súng, mắt trừng trừng nhìn về phía Bắc như uất ức điều gì (!), vì là bạn cùng lớp thời trung học Chu Văn An nên tôi đến bên Duật:


_ “Duật, mày làm cái gì ở đây mà để đầu trần không sợ bể “gáo dừa” sao?”
_ “Tao đang chờ tụi mày”.
Rồi anh chỉ tay về phía rừng dưới chân đồi Bạch Mã nói tiết:
_ “Cho ăn kẹo tụi nó cũng không dám bắn, lính cánh B* của tao đang phục ở trong đó, cũng mong tụi nó xuất hiện để hốt gọn, nhưng hình như tụi “con nít” này cố tránh TQLC tụi mình mà chỉ bám theo đuôi, nhiều lúc tức thấy mẹ”. (* mỗi TĐ TQLC có quân số từ 700-1000 và thường chia lảm 2 cánh khi đi hành quân, cánh A theo TĐT, cánh B đi theo TĐP)
Duật móc bao thuốc Capstan đầu lọc đưa tôi một diếu, hai đứa hút thuốc, nhả khói gói bay về hướng Bắc, chúng tôi nhìn theo, bất giác tôi hỏi Duật:
_ “Mày nghĩ Lữ Đoàn 147/TQLC rồi sẽ ra sao, lui về bằng đường nào?”
Duật cười nhạt:
_ “Tao làm sao biết được mưu cao của mấy ông tướng trong QĐ, nhưng tao nghĩ LĐ.147 sẽ gặp ngàn vạn khó khăn, nếu không có KQ, HQ và PB yểm trợ thì sẽ có thể từ chết tới bị thương”!
Tôi chán nản vứt thuốc đang hút dở xuống, lấy gót bốt-đờ-sô di di, nói:
_ “Thôi tao đi, mày ở lại, cẩn thận”.
Nhưng rồi Duật gọi giật tôi lại như muốn nói thêm điều gì, tay đưa khăn:
_ “Trông mày như thương binh, lau những vết máu trên mặt và cổ đi”
_ “Máu thương binh tao không muốn lau, đang đánh mà bắt phải lui thì tao sợ còn phải lau nước mắt nữa kìa”. Tôi nói với Duật mà như với ông lớn ở QĐ.


Khoảng 6 giờ chiều 25/3/1975, chúng tôi đến chân đèo Hải Vân, đây là điểm hẹn của LĐ.258 và lúc này tôi cũng được biết LĐ.15BĐQ ở phía Bắc đèo Phước Tường cũng đã rút quân an toàn phía sau chúng tôi. Vì còn phải chờ những toán quân sau nên tôi vào quán nước bên đường gọi một xị rượu đế để giải sầu, trong lúc đang uống, tôi chợt thấy một thương binh TQLC chống nạng đứng cô đơn bên kia đường, tôi nghĩ đến Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, một thi sĩ nổi danh đời nhà Nguyễn và là chú của vua Tự Đức, khoảng 150 về trước, ông đã có mặt tại nơi đây và nhìn thấy một người lính của cụ Nguyễn Tri Phương bị thương khi đánh nhau với quân Pháp tại Đà Nẵng, đang chống gậy khấp khểnh vượt đèo Hải Vân để về Huế, ông đã xuất khẩu làm một bài thơ tuyệt tác để lại cho hậu thế:


Tàn Tốt:


Loan thi tùng ý bạt thân hoan.
Nhất lĩnh đơn y chiếu huyết ban.
Ỷ trượng độc cô sơn tửu điếm
Tự ngôn sinh nhập Hải Vân Quan

Tạm dịch: Tàn Binh
Thân tàn lê bước vượt đèo cao
Mộ mảnh chiến y thắm máu đào
Chống gậy cô đơn bên quán núi
Thầm hẹn ngày về Hải Vân Quan.


Tôi mời anh thương binh đang đứng bên kia đường vào quán, khi anh ngồi vào bàn cùng uống rượu với tôi thì tôi mới biết anh thuộc TĐ.1/TQLC và là một trong những thương binh mà tôi cấp cứu tối hôm qua.
Khoảng 7 giờ tối 25/3, quân số Lữ Đoàn đã tập trung đầy đủ, tôi được chỉ định mang các thương binh về Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng. Thương binh được chở trên 2 chiếc GMC, có một trung đội TQLC đi theo bảo vệ, một điều ngạc nhiên là anh trung đội trưởng lại chính là thiếu úy bị thương mà tôi mới mổ lấy đạn ra lúc 2 giờ sáng hôm nay (25/3). Tôi thắc mắc về sự “lì” này thì anh đáp:
_ “Nhằm gì vết mổ đó, tôi bị thương tay trái còn tay phải vẫn bắn được mà”.
Tôi biết anh bị thương khá nặng cần phải tĩnh dưỡng hơn tuần lễ nên ngay sau khi mổ xong anh đòi trở lại đơn vị nhưng tôi đã không cho, nào ngờ anh “cãi lệnh” bác sĩ điều trị mà “chuồn” về đơn vị để tiếp tục chiến đấu. Xin khâm phục tinh thần chiến đấu của anh em TQLC.
Tôi thầm nghĩ Trung Tá Huỳnh Văn Lượm đã quá cẩn thận khi cho cả một trung đội bảo vệ thương binh và tôi, nhưng tôi đã lầm, khi gần đến thành phố, tôi đã thấy khói lửa bốc lên. Khi vào trong thành phố thì cảnh tượng tết Mậu Thân tái xuất hiện trước mắt tôi, nhà cháy, xe dân sự cháy, xe nhà binh cháy, thỉnh thoảng những tiếng nổ lớn phát ra từ những đám cháy làm ngọn lửa phụt lên cao.


Dưới lòng đường, trên hè phố, từng toán năm bẩy tên, đủ mọi sắc phục, cầm súng hướng lên trời bắn những loạt đạn vu vơ. Trong ánh lửa tôi nhìn thấy những cái nhìn căm thù trong mắt chúng, những cái nhìn của bọn đặc công hay du kích khi trước bị chúng tôi tóm cổ trói lại, nay chúng chưa bắn chúng tôi vì chúng biết chắc chắn sẽ gục ngay bởi trung đội TQLC hộ tống. Cám ơn đại bàng Huỳnh Văn Lượm đã biết lo xa cho sinh mạng của thuộc cấp.
Thành phố này đang chết! Không bóng người dân, không cảnh sát, không quân cảnh, giờ này họ ở đâu? Đi thêm vài cây số nữa, một cảnh thương tâm hiện ra, những người dân tỵ nạn Trị-Thiên nheo nhóc nằm ngồi đầy hai bên đường, không chăn, không chiếu, chỉ còn những cặp mắt đã cạn khô nước dương lên nhìn chúng tôi!
Năm 1972, mùa Hè Đỏ Lửa tôi đã có mặt tại QK1, trong Liên Đoàn 71 QY, tình trạng ban đầu cũng như vậy, nhưng từ khi Tướng Ngô Quang Trưởng ra nhậm chức TLQK, ông đã ra lệnh cho lực lượng an ninh, cảnh sát bắt nhốt tất cả những tên giả dạng thường dân, sinh viên học sinh để sách động quần chúng, ông ra lệnh sử bắn những tên du kích, đặc công cải trang làm lính giã ngũ để phá rối cướp bóc. Ông cho lập các trại tạm trú để dân tỵ nạm có nơi che mưa nắng, có cơm ăn áo mặc, có bác sĩ săn sóc sức khỏe, vì vậy tình hình mau chóng yên tĩnh trở lại và các binh sĩ yên tâm, tiếp tục chiến đấu mang lại chiến thắng vẻ vang cho QK1. Nhưng giờ này, 25/3/1975, ông và các phụ tá của ông ở đâu? Tại sao không làm những việc cần thiết đó như các ông đã làm năm 1972. Trong lúc binh sĩ vẫn vững tay súng ngoài mặt trận mà quý vị để hậu phương tang thương như thế thì còn đâu tinh thần chiến đấu của anh em chúng tôi!


Chúng tôi đến TYV Duy Tân lúc 9 giờ đêm, cổng chính của TYV không có đèn và cũng không có lính gác, tuy nhiên phòng nhận bệnh còn có ánh đèn, nhìn kỹ tôi thấy mấy quân y tá đang cặm cụi làm việc. Tại đây, trong ánh đèn vàng tại cửa phòng nhận bệnh, tôi gặp Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương, một niên trưởng nổi tiếng của chúng tôi, anh hiện là trưởng khu giải phẫu của TYV, nhưng vì đa số các y sĩ đã bỏ đi nên anh phải đảm trách thêm công tác nhận bệnh, anh hứa sẽ săn sóc cho thương binh của tôi. Khi tôi tỏ ý bất bình về các y sĩ bỏ đi, anh Lương nói:
_ “không thể trách họ được, họ là những y sĩ bệnh viện, không một tấc sắt trong tay, không có binh sĩ bảo vệ như y sĩ tiền tuyến, thành phố bây giờ đầy đặc công VC và giặc cướp, QĐ thì chẳng có quân lệnh gì để đối phó nên các y sĩ họ .!”
Anh bỏ ngang câu nói “họ..” rồi chợt vui trở lại với tôi:
_ “TQLC các cậu đã về, tôi tin tưởng tình hình sẽ khá hơn”.
Nghe anh nói tôi bỗng thấy một nỗi buồn và cô đơn dâng lên, trong thế trận có tính cách “chiến lược” này, sự thắng bại không nằm trong tay của những người lính ngoài mặt trận quanh năm chỉ có gạo xấy với cá khô mục như chúng tôi mà ở trong ý chí quyết chiến quyết thắng của những ông tướng ngồi trong phòng có gắn máy lạnh tại QK1, Bộ TTM và dinh Độc Lập. Những sự việc tôi đã quan sát từ một tuần lễ nay cho phép tôi tiên đoán sự sụp đổ của QK1, bất giác hai hàng nước mắt rơi trên má, vị mặn và tanh của máu và nước mắt kéo tôi về thực tế, tôi đứng nghiêm, đưa tay chào vị Y Sĩ quân đội đúng nghĩa và từ giã ANH để trở về với đồng đội mà không ngờ đây là lần đầu và cũng là lần cuối cùng tôi gặp ANH, niên trưởng Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Văn Lương ! Vì sau khi CSBV vào Đà Nẵng, chúng đuổi các thương binh ra khỏi TYV, bắt các y sĩ vào trại tù cải tạo và anh Lương đã tự sát để phản đối chính sách “khoan hồng nhân đạo” này của chúng!


Khi công tác tải thương hoàn tất vào lúc 9 giờ 30 đêm thì qua máy C25, tôi nhận được lệnh của Tiểu Đoàn QY/TQLC phải trình diện TĐ ngay lập tức. Tôi đến BCH/SĐ/TQLC đang đóng tại căn cứ Non Nước vào lúc 10 giờ đêm. Căn cứ được phòng thủ cẩn thận, đèn đuốc sáng rực, BCH/TĐ/QY nằm trong một cái hangar lớn sau cổng chính phía tay phải, tại đây tôi gặp hầu hết các Y Sĩ của bệnh viện Lê Hữu Sanh, Thủ Đức, họ cho biết vì SĐ không có phương tiện chở thương binh về Thủ Đức nên họ phải ra đây để điều trị tại chỗ, tôi nhìn vào trong hangar, có đến năm sáu trăm giường bệnh đầy thương binh! Tôi đến trình diện Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế, TĐT/TĐQY.


Ngay sau khi tôi đứng nghiêm chào TĐT thì anh Thế chưa chào lại mà chăm chú nhìn tôi từ đầu tới chân, vẻ mặt đầy lo lắng rồi anh hỏi:
_ “Toa bị thương hả, sao máu đầy người thế này?”
_ “Không, đấy là máu thương binh nhưng tôi chưa kịp thay quân phục”.
Y Sĩ Trung Tá không chào lại theo lối nhà binh mà anh nắm tay tôi thật chặt, tay kia để lên vai tôi vỗ nhè nhẹ, tôi cảm nhận được tấm lòng đầy tình đồng đội, tình anh em của người chỉ huy, nó có sức mạnh hơn ngàn lời nói hay huy chương lúc này, anh chỉ cái ghế đối diện, khi cả hai cùng ngồi, anh mệt mỏi nói:


_ “Hiện giờ Lữ Đoàn 147/TQLC đang kẹt tại bãi biển Thuận An, vì HQ không vào đón, ngày mai SĐ sẽ mở một cuộc hành quân về phía Bắc đèo Hải Vân để tiếp cứu anh em mình, nhiệm vụ của “toa” là chỉ huy một toán quân y tá TQLC và 5 xe cứu thương do Liên Đoàn 71QY tăng phái, mọi tiếp liệu và lương thực thì Đại Úy Sanh, sĩ quan tiếp liệu đã lo xong”.
Tôi nhận lệnh của anh Thế với tâm trạng hoang mang, nửa mừng nửa lo. Hoang mang vì mới sáng nhận lệnh rút lui của ông tướng tiền phương, bây giờ lại nhận lệnh của ông khác tiến trở lại, không biết chuyện gì đã xẩy ra trong nội bộ của các ông! Nhưng rồi tôi vui vì được tham dự một cuộc hành quân giải cứu chính anh em mình, nhưng cũng hơi lo, vì tôi biết địa thế phiá Bắc đèo Hải Vân rất hiểm trở, đơn vị tấn công sẽ gặp nhiều thiệt hại, không biết một mình tôi có cáng đáng nổi nhiệm vụ được giao phó hay không?


Đà Nẵng ngày 26 và 27 tháng 3 năm 1975.
Lúc 6 giờ sáng ngày 26/3/75, toán y tá TQLC đã sẵn sàng trình diện, tôi kiểm soát y cụ cứu thương, thuốc men, lương thực, nón sắt, áo giáp, mặt nạ chống hơi độc v.v.. tất cả trong tình trạng hoàn hảo, riêng vũ khí cá nhân M16 thì thiếu bảo trì, tôi cho anh em 15 phút để lau chùi súng ống. Trong cuộc chiến tàn bạo này, quân y tá và y sĩ là mục tiêu ưu tiên của những tên VC bắn sẻ, y sĩ thuộc binh chủng TQLC có số lượng tử vong cao nhất trong các quân binh chủng QLVNCH, vì vậy tôi muốn súng cá nhân của họ phải trong tình trạng sẵn sàng, không hẳn là để tác chiến mà mục đích chính là tự vệ và yểm trợ cho nhau trong khi thi hành nhiệm vụ cứu thương. Sau đó tôi chia anh em ra làm 3 toán có nhiệm vụ rõ ràng: Toán thâu lượm thương, toán cấp cứu, toán tải thương. Tôi cũng yêu cầu đại Úy Sanh trang bị nón sắt áo giáp cho các tài xế của 5 xe tải thương. Tải thương trên đường đèo mà tài xế bị thương thì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường.


Đến 6 giờ 30 sáng là tôi báo cáo lên TĐQY là chúng tôi đã sẵn sàng, tôi được lệnh chờ tại chỗ, tới 11 giờ thì lệnh hành quân được hủy bỏ mà tôi không biết lý do, nhưng toán quân y của tôi thì được lệnh ra bến thương cảng Đà Nẵng để đón Lữ đoàn 147/TQLC.
Khoảng 12 giờ, tôi thấy hai chiếc tàu “há mồm” cập bến, hai chiếc tàu này chở một trung đoàn thuộc SĐ.22/BB từ Chu Lai về Đà Nẵng, quân số của họ còn chừng ba đến bốn trăm người, quân phục nhàu nát, khi đi qua cầu tầu, một số anh vứt súng M16 của họ xuống biển! Đi sau cùng là hai thiếu tá bị thương nơi đầu, họ dìu nhau xuống cầu tầu, tôi và đệ tử giúp hai ông một tay và đề nghị cấp cứu cho họ nhưng hai ông cám ơn vì phải di chuyển ngay với binh sĩ của họ. Khâm phục trước thái độ “huynh đệ chi binh” này, tôi chào hai ông và chúc bình an. Nghe tôi chúc, một trong hai ông đưa tay bắt và như muốn thanh minh:
_ “Đã đánh đấm gì đâu, đang đi hành quân thì có lệnh rút, mà lệnh rút không rõ ràng nên anh em chúng tôi rất bực mình”.
Vào lúc 2 giờ chiều thì một chiếc LCU từ từ cập bến, khi bửng tàu mở ra, tôi rất mừng vì thấy màu áo rằn ri quen thuộc, đi đầu là mấy anh em khiêng xác của 3 tử sĩ, xác họ được gói kỹ trong những chiếc poncho, một trong 3 xác này là Thiếu Tá Nguyễn Trí Nam TĐP/TĐ.4/TQLC, sau đó là Đại Tá Nguyễn Thế Lương LĐT/LĐ 147, ông bị thương ở chân, mặc dù được các quân y tá dìu xuống cầu tàu nhưng ông di chuyển rất khó khăn và đau đớn. Theo sau LĐT là bác sĩ Rậu, bác sĩ Khoa và toán y tá cùng khoảng 100 thương binh. Cuối cùng là khoảng hai trăm quân nhân thuộc các tiểu đoàn TQLC hiện đang bị kẹt lại tại bãi biển Thuận An. Tôi nhanh chóng phân loại các thương binh rồi ra lệnh mang họ lên đoàn xe tải thương để về căn cứ Non Nước. Theo Bác Sĩ Rậu ĐĐT/QY/LĐ.147 thì ông dược sĩ Lữ Đoàn và 4 ông y sĩ TĐ được ghi nhận là mất tích tại Thuận An. Buổi chiều, sau khi tải thương xong, tôi hỏi thăm tình hình, BS Khoa nói vắn tắt:


_ “Khi TQLC ra đến bãi biển Thuận An, đang dàn đội hình phòng thủ để chờ tầu HQ vào đón thì VC tấn công, loạt đạn đầu tiên có 4 TQLC tử thương, anh em mang xác họ đến ĐĐQY, nhưng sau đó thì súng nổ khắp nơi, bị thương và tử thương rất nhiều nên chết ở đâu thì chôn ở đó. Sáng ngày 26/3 khoảng hơn 8 giờ khi LCU vào đón thương binh và BCH/LĐ thi 4 tử sĩ được mang lên tàu, nhưng xác của Đ/Úy Tô Thanh Chiêu ĐĐT/TĐ.4 bị rơi xuống biển nên chỉ cỏn 3.”
Tôi được giao nhiệm vụ săn sóc 20 thương binh thuộc LĐ.147, trong đó có một chuẩn úy mới ra trường, trước kia anh là giáo sư trung học, anh bị bắn vào đùi, vết thương không nặng lắm, sau khi lau chùi băng bó xong tôi ngồi lại nghe anh kể chi tiết cuộc rút quân của LĐ.147/TQLC, sau đó anh phẫn uất vừa khóc vừa nói:


_ “Bác sĩ biết không, cả một lữ đoàn bị lùa vào cái rọ, một bãi cát trống, tứ bề là nước mênh mông, không có lối thoát, không có địa thế ẩn núp, làm bia cho CSBV bắn, như bị trói tay dẫn ra pháp trường cát, mà người đưa LĐ.147 này ra pháp trường cát lại những vị chỉ huy cao cấp của Quân Đội! Họ là ai?”
Nhận thấy thương binh này quá xúc động và phẫn uất, dù chỉ là cấp chỉ huy trung đội, nhưng đã có một cái nhìn và nhận xét khá chính xác và chân thật, tôi vỗ vai anh an ủi và nói y tá chích cho anh một mũi thuốc an thần.
Sáng 27/3/1975, tin tòan bộ lực lượng QĐ.1Tiền Phương dưới quyền chỉ huy của Tướng Lâm Quang Thi* bị tan rã, trong đó có LĐ.147/TQLC, như một tiếng sét ngang tai, thoạt đầu không ai tin, vẫn cho rằng CSBV tung ra như đã từng rêu rao trên đài phát thanh tối 23/3 là chúng đã “diệt gọn LĐ.258 ngụy” để làm lung lay tinh thần chúng tôi.


Không thể được, bởi vì lực lượng QĐ.1/TP gồm những đơn vị thiện chiến của QLVNCH đó là: SĐ.1/BB gồm có 4 trung đoàn và Đại Đội Hắc Báo, một sư đoàn nổi danh đã bảo vệ vùng hỏa tuyến và luôn luôn chiến thắng. Đó là Lữ Đoàn 147/TQLC với 4 tiểu đoàn tác chiến tinh nhuệ cùng với Pháo Binh và ĐĐ Viễn Thám, một đạo quân chưa bao giờ biết lui. Đó là LĐ.1 Thiết Kỵ với chiến xa M48 tối tân đã từng gây kinh hoàng cho 8 SĐ/CSBV năm 1972. Đó là LĐ/BĐQ chỉ biết “sát Cộng” và còn bao tiểu đoàn pháo binh nặng nhẹ cùng các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân v.v.. Cỏn về vũ khí đạn dược ư? Chỉ riêng kho đạn pháo binh của TQLC cũng đã có 100.000 trái đại bác 105 ly.
Với một lực lượng như trên, giữ vững tay súng và y chí từ trên xuống dưới, cộng thêm hỏa lực yểm trợ của SĐ.1KQ và Hải Pháo vùng I Duyên Hải thì CSBV sẽ không thể làm gì được chúng ta. Khi chúng tôi nhận được lệnh bỏ QL1, đoạn đường Huế-Đà Nẵng thì chúng tôi đã tiên đoán được các lực lượng tiền phương QĐ.1 sẽ gặp muôn bàn khó khăn và nguy hiểm, gần như họ bị dồn vào tuyệt lộ! Nhưng không lý do gì khiến chỉ trong 2 ngày mà lực lượng Tiền Phương tan rã! Nhưng tin tức dồn dập đưa về, bắt chúng tôi phải tin và đó đúng là sự thật!
Chúng tôi đau đớn cho đồng đội, tức giận và nghi ngờ khả năng của các cấp chỉ huy của QĐ.1, của bộ TTM, của dinh Độc Lập, không biết vì nguyên nhân nào, vì bị áp lực nào hay vì quyền lợi và mạng sống bản nhân, phe nhóm mà họ nỡ “tàn sát” một đạo quân tinh nhuệ đã, đang hy sinh để bảo vệ đất nước? Bây giờ thì đến thân phận chúng tôi, không biết rồi sẽ ra sao? Chúng tôi chỉ còn biết trông cậy vào nhau, những đồng đội của binh chủng TQLC.
Chiều ngày 27/3/1975, tôi lên TTHQ/SĐ để tìm hiểu thêm tin tức thì gặp Thiếu Tá Trần Vệ, một bạn cũ, hiện anh là trung tâm trưởng TTHQ, anh buồn rầu cho biết QĐ.1 TP của Tướng Lâm Quang Thi* đã thực sự tan vỡ, mấy hôm nay rồi không nhận được lệnh gì từ trên QĐ, và khi có việc gấp anh phải đích thân lên QĐ thì chẳng còn thấy ai ở trên đó nữa! Ngoài ra tin cho biết Quảng Nam, Quảng Ngãi đã “thất thủ” (?) vì SĐ.22/BB đã được lệnh rút khỏi nơi này mặc dù chưa bị CSBV tấn công, cuộc rút quân đã xảy ra trong hỗn loạn! Như vậy cho đến 27/3/75, lãnh thổ QK1 chỉ còn thành phố Đà Nẵng! Tôi chán nản lo lắng, quay trở lại TĐQY.


Quảng Trị, Huế ngày 24,25,26,27/3/75.
Trong khoảng thời gian trên, tôi đã có mặt tại đèo Phước Tường, trên QL1, đèo Hải Vân và Đà Nẵng, nhờ vậy mà tôi biết những điều như sau:
1.Lệnh bỏ đèo Phước Tường và QL1 Bắc đèo Hải Vân do đích thân Tướng TL/QĐ Ngô Quang Trưởng ra lệnh lúc 4 giờ sáng ngày 24/3/75
2.QL1 từ cầu Hai, phía Nam Huế đến đèo Hải Vân trong những ngày 24 và 25 tháng 3/75 vẫn an toàn để rút quân, ngày 25/3, LĐ.258/TQLC và LĐ.15/BĐQ rút quân trên đoạn đường này đã hoàn toàn yên tĩnh, không một viên đạn lớn nhỏ nào bắn về phía chúng tôi. Tháng 4/2009, tôi đến thăm Đại Tá Nguyễn Năng Bảo, LĐT/LĐ.258, là người có trọng trách bảo vệ đoạn đường này, ông khẳng định:
_ “Đoạn QL1 này cho đến ngày 25/3/75 vẫn sử dụng được”.
3. Nếu Tướng Ngô Quang Trưởng không cho lệnh rút lực lượng bảo vệ đoạn đường QL1 này và Tướng Tiền Phương Lâm Quang Thi quyết định dùng QL1 để hành quân lui binh thì các ông đã đem về Đà Nẵng toàn bộ lực lượng Tiền Phương, bảo toàn LLTP thì cuộc chiến QK1 đã không bi đát như đã xảy ra.
Với con mắt của một người lính chiến, dù là lính chuyên môn, chúng tôi tin tưởng lui binh theo QL1 sẽ được bảo toàn lực lượng tiền phương. Tại sao? Tuy cuộc hành quân lui binh bao giờ cũng khó khăn hơn hành quân tấn công, nhưng trong trường hợp này, QL1 vẫn nẳm trong tay ta, địa thế dọc theo QL1 từ Huế đến đèo Hải Vân quá quen thuộc với mọi cấp quân cán chính vùng I, các đơn vị yểm trợ hỏa lực như Pháo Binh, Không Quân, Hải Quân vẫn còn đầy đủ, nhất là Hải Pháo có một xạ trường lý tưởng hơn bất cứ chiến trường nào khác. Một yếu tố quan trọng nữa là áp lực địch chưa có gì. Và giả dụ chúng có 2 hay 3 sư đoàn bám theo “truy kích” thì vẫn không làm gì được với đoàn quân tinh nhuệ của QĐ.1TP, và chính giai đoạn này chúng mới là mồi ngon. là bia hứng đạn của những anh hùng Không Quân SĐ.1/KQ, những anh hùng “Hải Pháo” của HQ vùng I. Với tất cả những yếu tố đó, dù là kinh nghiệm của một người lính, chúng tôi cũng thấy QL1 không phải là Liên Tỉnh Lộ 7 của QK2.


Vậy tại sao Tướng Tư Lệnh Tiền Phương QĐ.1 Lâm Quang Thi lại quyết định chọn lui binh theo con đường “thuyền ra cửa biển” để toàn bộ “con cái” của ông ôm “đầu máu”! Dĩ nhiên một vị tướng tiền phương tài ba có tất cả những lý do của ông hoặc ông bị “bắt buộc” chọn đường lối hành động này! Đó là điều lính tôi không hiểu nổi nên mới tâm sự với những đồng đội của tôi đã nằm lại trên bãi cát bờ biển Thuận An nhân dịp ông tướng xuất bản cuốn “Hell In An Lộc”.
Trong hồi ký “Ngày Tháng Không Quên: 8/3/75-30/475”, Đại Tá Nguyễn Thành Trí TLP/SĐTQLC kiêm Tư Lệnh Lực Lượng Tây-Bắc Huế, sau khi họp với Trung Tướng Lâm Quang Thi, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm TL/SĐ.1BB, Đại Tá Lê Ngọc Hy TMT/TP, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ TKT/Thừa Thiên cùng có nhận định khó bảo vệ được Huế nên Tướng Thi đề nghị rút quân khỏi Huế lên Tướng Trưởng như sau:


“Lực lượng Tây-Bắc do tôi chỉ huy sẽ rút về Thuận An, sau đó di chuyển về cửa Tư Hiền. Tại đây Hải Quân và Công Binh QĐ.1 sẽ phối hợp thiết lập cầu phao để các cánh quân vượt sông nhanh chóng và dễ dàng. Lữ Đoàn 468/TQLC từ đèo Hải Vân sẽ cử một đơn vị đến chiếm núi Vĩnh Phong để bảo vệ điểm vượt sông đồng thời làm thành phần tiếp đón SĐ.1/BB do Tường Điềm chỉ huy sẽ rút theo trục quốc lộ 1 và sẽ tập trung về điểm vượt sông song song với cánh quân TQLC. Tất cả các vật liệu nặng, pháo binh, chiến xa không thể di chuyển hay vượt sông được, đều phải được phá hủy tại chỗ.”.(TT2/TQLC, trang 538)


Sau đó thì Tướng Thi chỉ định Tướng Điềm và Đại Tá Hy bay trực thăng vào Đà Nẵng đệ trình kế hoạch rút quân khỏi Huế lên Tướng Trưởng, còn Đại Tá Nguyễn Thành Trí thì thông báo ngay cho các đơn vị trực thuộc biết để chuẩn bị tinh thần, tổ chức gọn gàng và sẵn sàng thi hành khi có lệnh. Ông việt tiếp:
_ “Khoảng 1730 giờ, Đại Tá Hy đáp trực thăng đến và trao cho tôi công điện mang tay. Ông nói thêm là công điện này xác nhận việc thi hành kế hoạch rút quân như đã bàn thảo khi trưa tại BCH Hải Quân. Tôi ra lệnh cho các đơn vị sẽ bắt đầu thi hành kế hoạch như đã thông báo vào lúc 1800 giờ.
Suốt đêm theo dõi tùng cánh quân rút về mà lòng se lại! Những người lính Mũ Xanh ấy đến giờ phút chót vẫn giữ vững tay súng, đẩy lui từng đợt xung phong của quân thù mưu toan lấn chiếm chia cắt. Chưa có vị trí nào bị mất trên hành lang sông Bồ hay Hiền Sĩ, Cổ Bi. Địch chưa hề thực hiện nổi mộng cắt ngang An Lỗ để ngăn đôi Quảng Trị Huế. Nhưng giờ đây mọi người phải rút đi như những kẻ thua cuộc!”( TT2/TQLC trang 538).
Cùng với ĐạiTá Tư Lệnh Phó SĐTQLC, các tiểu đoàn trưởng thuộc quyền như Thiếu Tá Phạm Cang TĐT/TĐ.7, Thiếu Tá Phạm Văn Tiền TĐT/TĐ.5, các Đại Đội Trưởng, Trung Đội Trưởng như Cao Xuân Huy, Phan Văn Đuông, Toàn, Minh v.v.. đã ghi lại những đoạn đường chiến binh “máu và nước mắt” của các anh trong giai đoạn bị bắt buộc phải rút quân này.


Các Tiểu Đoàn 3,4,5/TQLC, TĐ.2PB, Đại Đội Viễn Thám đang ở thế thượng phong đối đầu với các trung đoàn CSBV tại Quảng Trị thì nhận được lệnh rút quân hỏa tốc về cửa Thuận An lúc 6 giờ chiều ngày 24/3/1975! Họ đoạn chiến với địch, rút ra QL1. Trở ngại thứ nhất là rút quân hỏa tốc trên đoạn đường dài hơn 30 km, không có phương tiện chuyên chở nên vũ khí nặng và lương thực phải phá hủy tại chỗ, chỉ còn đem theo vũ khí cá nhân! Trở ngại thứ hai là khi tới bến phà Tân Mỹ, những phà chở quân đã bị kéo sang bên kia bờ phá Tam Giang và bị phá hủy! Các chiến đỉnh của HQ và LCM của Quân Vận cũng đã bỏ đi! Tại đây một số anh em TQLC phải bỏ tiền túi thuê ghe gọ của dân để qua phá. Riêng TĐ.7/TQLC đóng tại Hương Điền, gần với Thuận An nên quân số và vũ khí được bảo toàn. Lúc 8 giờ sáng ngày 25/3/75, tất cả lực lượng TQLC thuộc LĐ.147 đã tập trung đầy đủ tại bãi biển Thuận An để chuẩn bị suôi Nam, đi về cửa Tư Hiền như lệnh của Tướng Tư Lệnh Tiền Phương.


Nhưng cuộc lui binh của LĐ.147/TQLC đã không thực hiện được vì 3 yếu tố “KHÔNG” sau đây:
_Không có cầu phao tại cửa Tư Hiền!
_Không có các giang đoàn và duyên đoàn bảo vệ bãi biển Thuận An.
_Không có KQ, HQ yểm trợ, tiếp viện và tiếp tế cho LĐ.147/TQLC.
1/-Không có cầu phao!
Cầu phao bắc qua của Tư Hiền đã không được thực hiện như trong lệnh hành quân! Cầu phao này thuộc trách nhiệm của Công Binh QĐ1 và HQ. Không cầu phao làm sao đưa quân “sang sông” vượt cửa Tư Hiền! Thế là Lực Lượng Tiền Phương của Tướng Thi “chết đứng” trên bãi biển. Không rõ số phận các đơn vị khác ra sao nhưng vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 25/3 thì LĐ.147/TQLC của Đ/Tá TQLC Nguyễn Thế Lương nhận được lệnh từ QĐ.1TP:
“Dừng quân trên bãi biển phía Nam cửa Thuận An để tàu HQ vào đón”.
Thời điểm 10.30 sáng 25/3 tình hình còn yên tĩnh, LĐ.147/TQLC dàn quân phòng thủ trật tự để chờ tàu. Ngoài khơi một tàu lớn bỏ neo, người từ trong bờ còn trông rõ chữ HQ 801, như vậy khoảng cách không xa, ngoài ra còn 5 chiếc LCM chạy vòng vòng còn TQLC trong bờ thì vẫn chờ và chờ tới 5 giờ chiều mà vẫn không có tàu nào vào đón và địch quân đã đến bao vây quân ta trên bãi cát! Hơn 6 tiếng đồng hồ chờ đợi, nằm ôm súng ngắm tàu diễn hành và cũng là khoảng thời gian cần và đủ để địch đuổi kịp quân ta và dĩ nhiên bãi đáp đã mất an ninh.


Theo hồi ký “Can Trường Trong Chiến Bại”, Phó ĐĐ Hồ Văn Kỳ Thoại, TLHQ vùng 1 Duyên Hải thì trong các ngày 24,25,26/3, ông đã thành lập Liên Đoàn Đặc Nhiệm do Trung Tá Lê Thành Uyển chỉ huy. Liên Đoàn này gồm có 8 chiến hạm và 4 chiến đỉnh để bảo vệ vùng biển Thuận An. Ngoài ra tại đây ông còn có 4 LCU và 18 LCM8, cả hai là loại tàu đáy bẳng, có thể vào sát bờ (LCU chở được 400 người, LCM8 chở được 200). Và xin nghe tướng Hồ Văn Kỳ Thoại giải thích lý do HQ không vào đón TQLC được trong ngày 25/3 như sau:
_ “Vì sóng biển cấp 2, sóng cao từ 1/2 đến 1m và bờ biển có sóng ngầm”!
Ông Tướng nói thì lính tôi biết thế thôi, tuy nhiên cũng cám ơn Hải Quân là vào sáng ngày 26/3 đã có một chiếc LCU Anh-Hùng vào đón được BCH/LĐ.147, tử sĩ và thương binh cùng một số TQLC. Rủi thay LCU này bị trúng hỏa tiễn AT3 của VC khiến một số tử thương và bị thương, trong đó có Đại Tá Lương bị thương vào chân, còn chiếc LCU thứ 2 thì bị mắc cạn và KHÔNG CÒN chiếc nào vào nữa. Cũng đúng thôi, theo lệnh hành quân, tầu vào bờ đã trễ hơn một ngày, dư thời gian cho CSBV nhắm AT3 và đủ mọi loại vũ khí vào TQLC và tàu HQ!


“Chiến trường mỗi phút giá đáng ngàn sinh mạng đấy các ông ơi!”
Trong hồi ký “Can Trường Trong Chiến Bại”, PĐĐ Thoại không nói gì đến nỗ lực của HQ trong việc thiết lập cầu phao tại cửa Tư Hiền như Tướng Tư Lệnh TP đã nói trong lệnh HQ mà ông chỉ nói đến nỗ lực ngày 26/3! Quá trễ rồi! Ngoài ra PĐĐ có đề cập đến một chi tiết khá lạ, trang 200 và 204 ông Tướng cho biết: Tướng Thi và bộ Tham Mưu của ông khoảng 100 người lên soái hạm HQ5 vào buổi trưa ngày 24/3, tại đây Tướng Thi ra lệnh cho Tr/Tá Uyển, chỉ huy liên đoàn đặc nhiệm, bằng tiếng Mỹ: “Go South”. Nhưng không được Tướng Thoại chấp Thuận. Lúc 4 giờ 20 chiều ngày 25/3 Tướng Thi lên HQ715 để về Đà Nẵng!


Bằng Phong tôi mong rằng chi tiết này không có thật, vì tôi tin rằng không có một ông tướng nào có thể bỏ một đạo quân dưới quyền đang lâm nguy.
2/Không có bảo vệ bãi biển Thuận An!
Bãi biện Thuận An có thể ví như một cù lao nổi lên trên mặt nước. Phía trước là biển Đông, phía sau là đầm Thủy Tú, đầm Hà Trung và Phá Tam Giang, phía Bắc là cửa Thuận An, phía Nam là cửa Tư Hiền, (hai cửa này là nơi thông thương giữa biển và các đầm kể trên, bề ngang của hai cửa này rộng trung bình từ 200m đến 500m.). Khu vực này theo Tướng Thoại thì được bảo vệ bởi 2 Giang Đoàn và 2 Duyên Đoàn vậy mà trong những ngày 24, 25/3 quân CSBV ung dung, không tốn một tiếng súng, vượt qua đầm qua sông để bao vây bãi biển Thuận An, nơi LĐ.147/TQLC tập trung để HQ vào đón như lệnh của QĐ1TP lúc 10 giờ 30 sáng 25/3! Lực lượng bảo vệ đã đi đâu theo lệnh của ai? Hay đã bị VC dùng “thuyền thúng” hay “tầu ngầm” tấn công thì chỉ có ..mặt trời mới biết!


3/Không có KQ, HQ yểm trợ và tiếp tế khi bị bao vây!
Theo lệnh QĐ.1/TP lúc sáng ngày 25.3, LĐ.147/TQLC chờ tầu trên bãi cát, vì không có hai yếu tố 1 và 2 kể trên nên đã bị CSBV đuổi kịp, bao vây và tấn công! VC chiếm các đồi cao với đầy đủ vũ khí nặng nhẹ, TQLC với súng cá nhân, họ như những ông lớn đi tắm biển nằm “phơi bụng” trên bãi cát! Chuyện gì xẩy ra?
a/ Họ đã bị bỏ rơi trước mắt một lực lượng Hải Quân vùng 1/Duyên Hải của Tướng Thoại vô cùng hùng hậu với hỏa lực Hải Pháo kinh hồn, những khẩu đại pháo chưa kịp khai hỏa!
b/ Họ đã bị bỏ rơi khi trên trời có cả một SĐ1/KQ của Tướng Ánh với bao nhiêu phản lực xé gió, bao nhiêu trực thăng võ trang! Trực thăng nhiều đến độ không còn chỗ chứa phải di tản bớt về các phi trường phía Nam! Lính TQLC mơ thấy từng phi đoàn phản lực, hàng đàn trực thăng võ trang đến yểm trợ, tiêu diệt VC đang phơi mình trên đồi cát. Nhưng không, đó chỉ là giấc mơ còn thực tế là những đàn chim biển, những con hải âu “thả bom” lên đầu NM (anh em)!


LĐ.147/TQLC hoàn toàn bị bỏ rơi trên bãi biển, nước mênh mông mà không có một giọt nước để uống tương tự như có hỏa lực hùng hậu KQ, HQ mà phải đi lượm từng viên đạn M16 rơi trên bãi cát để “tự vệ” và “tự tử”! Sự thật là vậy đó thưa quý vị Tư Lệnh Tiền Phương, TLKQ, TLHQ vùng I.


Cho đến chiều ngày 26/3, không còn đạn để tự vệ, họ đã “tiết kiệm” bằng cách chỉ dùng một trái lựu đạn M26 để mà tự sát được tập thể! Ngoài khơi, trên cao làm sao quý vị nghe được những tiếng nổ này của M26!
Sức cùng lực kiệt, tất cả những gì còn lại của LĐ.147/TQLC đã “được” quý vị “bàn giao” cho CSBV sớm hơn giống như Tổng Thống “một ngày” khi ông ra lệnh bàn giao QLVNCH cho CSBV! Những người lính TQLC đổ bao nhiêu xương máu và nước mắt nơi địa đầu giới tuyến, lính Tổng Trừ Bị bị sử dụng làm quân địa phương giữ đất cho QK1 thì vào lúc 3 giờ sáng ngày 27/3/1975 đã bị tan hàng một một cách đau đớn không vì địch quân mà vì chính những người ..vắt chanh! Sự tan rã Lực Lượng Tiền Phương QĐ.1 nói chung và LĐ.147/TQLC nói riêng là hậu quả tất yếu đưa đến QĐ.1 phải bỏ Đà Nẵng vào sáng 29/3/75.


Thưa Tướng Tư Lệnh Tiền Phương QĐ.1
Được biết trường đại học University of North Texas vừa xuất bản cuốn sách “Hell in An-Lộc” do chính ông viết bằng Anh Ngữ, cuốn sách nói về trận chiến An Lôc năm 1972. Tuy ông không chỉ huy hay có mặt tại chỗ, nhưng ông đã sưu tầm tất cả dữ kiện để viết “Hell in An Lộc”, để nói cho người Mỹ hiểu rõ về tinh thần chiến đấu anh dũng của Quân Đội VNCH không như một số truyền thông phản chiến đã có định kiến sai lạc bất lợi cho chúng ta về cuộc chiến này.
Cuốn sách “Hell In An Lộc” được nói đến nhiều theo hai chiều xuôi ngược, cá nhân Bằng Phong tôi không dám có ý kiến khi tôi chẳng biết gì về trận chiến ở đó cả, nhưng tôi đã có mặt, đổ máu và nước mắt từ Quảng Trị, Huế và chỉ rời Đà Nẵng vào 8 giờ sáng ngày 29/3/1975 tại bãi biển NON NƯỚC nên tôi mong ước, đúng hơn là cầu xin Trung Tướng Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 viết một cuốn sách về trận chiến do đích thân Trung Tướng chỉ huy, cuốn sách được viết bằng chữ quốc ngữ (Việt Nam) để những người lính chúng tôi, dù đã khuất hay sắp khuất đọc và biết được những “khó khăn” trong cuộc chiến tại đây đưa đến hậu quả cả một đoàn quân tinh nhuệ chịu đứng khoanh tay, chịu trói!


Thưa Trung Tướng Tiền Phương.
Với cái nhìn hạn hẹp của một người lính về tình hình và địa thế thì tôi cứ thắc mắc cho tới ngày nay rằng tại sao:
a/ Tư Lệnh không cho Lực Lượng Tiền Phương QĐ.1 lui binh theo đường bộ, lấy QL.1 làm trục chính? Như tôi đã trình bày từ đầu bài viết này, những điểm quan trọng trên QL1 đều có quân ta trấn giữ và vẫn còn an ninh. Thiết tưởng không cần nêu lên những yếu tố khả thi khi rút theo QL1 và những “vô kế khả thi” khi đi ra biển mà những con tàu cứ “lắc lư” cái đầu, không chịu vào bờ.
b/ Khi Tư Lệnh rút lui theo bờ biển hẳn là có lý do gây bất ngờ cho địch và tiết kiệm thời gian di chuyển cho quân ta vì có tàu Hải Quân yểm trợ. Nhưng cái “bất ngờ” nhất mà Tư Lệnh gặp phải, nguyên nhân chính gây đau thương cho thuộc cấp là cầu phao tại cửa Tư Hiền đã không có, không được Công Binh và HQ phối hợp thực hiện như trong lệnh hành quân! Lý do tại sao? Ai chịu trách nhiệm?
c/ Khi cầu phao ở cửa Tư Hiền không được thực hiện thì kế hoạch lui binh của Tư Lệnh thay đổi là Hải Quân vào đón Bộ Binh. Thật là nhanh chóng gọn gàng và chắc chắn thành công nếu như HQ thi hành kế hoạch. Nhưng HQ đã không tuân lệnh! Ở đây chúng tôi không dám thắc mắc với Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại Tư Lệnh HQ Vùng I, vì thực tế hay lý thuyết thì Tướng Thoại vẫn là thuộc cấp của Tư Lệnh QĐ. Vậy thì cái gì khiến Tư Lệnh không điều động được Hải Quân như kế hoạch đã định khiến gần 4000 quân thiện chiến đứng làm bia cho CSBV tập bắn hoặc làm mồi cho cá biển Đông?.
d/ Không Quân Việt Nam chiếm ưu thế tuyệt đối trong trận chiến này, SĐ.1 Không Quân của Tướng Ánh vẫn còn nguyên vẹn, hùng mạnh. Vậy mà không có bất cứ một phi vụ oanh tạc nào lên đầu địch quân. Một người lính như tôi còn biết hỏa lực KQ là yếu tố quyết định thành công cho lui binh, vậy thì thưa Tư Lệnh, những phản lực đã bay đi “thả bom” ở đâu? Những trực thăng bay đi đâu cho đến nỗi không có một chiếc để tải thương và tiếp tế cho đoàn quân đang phơi cái “bụng trống” trên bãi biển.?


Mũ Xanh Nguyễn Thế Thụy, âm thoại viên của Tư Lệnh SĐ/TQLC viết:
_ “ Đại Úy Nguyễn Quang Đan, chánh văn phòng TL/SĐTQLC và tôi được lệnh dùng trực thăng của Tư Lệnh chở gạo xấy đề tiếp tế cho LĐ.147 tại bãi biển Thuận An. Chúng tôi cố nhét cho thật nhiều, nhưng chỉ một chiếc trực thăng như thế này thì phải bay bao nhiêu phi vụ để tiếp tế gạo cho gần 4000 người trong khi thời gian thì quá ít. Đến địa điểm, Đại Úy Đan và tôi đẩy những thùng gạo xấy xuống cho các anh em ỏ dưới rồi quay về gấp làm chuyến khác. Khi chuyến thứ 3 vừa xong, từ Thuận An bay về Non Nước thì phi công báo là trực thăng của Tướng Điềm TL/SĐ.1/BB bị nạn cần cấp cứu, họ xin ý kiến Đại Úy Đan và anh Đan đã OK, mặc dầu không phải nhiệm vụ. Trực thăng đổi hướng phải, rồi hướng Bắc, phát hiện trực thăng Tướng Điềm nằm gần QL1, phía Bắc Lăng Cô chừng 10 km. Khi chúng tôi vừa chạm đất thì phi hành đoàn, Tướng Điềm và một thiếu tá chạy về phía chúng tôi và cũng là lúc VC từ bìa làng khai hỏa khẩu thượng liên. Chuẩn Tướng Điềm chạy khập khiễng trên cát, chúng tôi đã chạy lại dìu ông lên trực thăng của Lạng Sơn và đưa họ về Đà Nẵng, rồi trực thăng đi dổ xăng và chấm dứt tiếp tế gạo xấy cho anh em”!


Sự thật nó là như thế đấy, bao nhiêu trực thăng đi đâu cả rồi thưa Tư Lệnh? Khốn nạn cho đến nỗi không còn một chiếc nào để tải thương và tiếp tế đạn được cho LĐ.147, tiếp tế cho anh em vài thùng gạo xấy để nhai thì phải dùng đến trực thăng chỉ huy của Tư Lệnh TQLC! Và rồi cũng chỉ còn một chiếc trực thăng duy nhất của TL/SĐTQLC đi cấp cứu TL/SĐ.1/BB! Chuyện tưởng đùa mà có thật!


Thưa Tư Lệnh Tiền Phương.
Những thắc mắc nêu trên không phải của riêng cá nhân tôi mà của tất cả những quân sĩ dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh mà họ đã nằm lại vĩnh viễn ở “Bờ Biển Tuận An, Pháp Trường Cát”, của những quân nhân dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh mà họ đã bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn để rồi những tên du kích VC mang dây kẽm gai đến cột chung họ lại với nhau! Tất cả mong ước được nghe Tư Lệnh giải thích hầu chia sẻ với Tư Lệnh những khó khăn mà Tư Lệnh gặp phải, dù cho những khó khăn đó đến từ bất cứ đâu.
Quan trọng hơn nữa là lời giải thích của Tư Lệnh sẽ trả lại uy tín và danh dự cho tất cả các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đánh tan tin đồn của những kẻ vô trách nhiệm ở hậu phương rằng cấp chỉ huy ngoài mặt trận đã bỏ lính mà đi.
Dầu sao đối với người Mỹ thì dù Tư Lệnh có giải thích hay không thì chuyện cũng đã thuộc về quá khứ, còn đối với các anh em cựu quân nhân chúng tôi thì vẫn cần và rất cần uy tín của Tư Lệnh nói riêng và các Tư Lệnh khác nói chung vì cuộc chiến cho Việt Nam Tự Do vẫn còn tiếp diễn, cuộc chiến còn thì chúng tôi vẫn cần cấp chỉ huy có uy tín.